Loading
  • Facebook
  • Youtube
Giáo xứ Hoài Lai - Giáo phận Phát Diệm
  • TRANG CHỦ
  • GIỚI THIỆU
    • Lược sử giáo xứ
    • Linh mục phụ trách
    • Hội đồng mục vụ
  • TIN TỨC
    • Giáo hội Hoàn Vũ
    • Giáo hội Việt Nam
    • Giáo phận Phát Diệm
    • Giáo xứ Hoài Lai
  • SỐNG LỜI CHÚA
  • MỤC VỤ
    • Giới trẻ
    • Thiếu Nhi Thánh Thể
  • LỊCH PHỤNG VỤ
  • LIÊN HỆ
  • Search
  • Menu Menu

Điều răn đứng đầu (03.11.2024 – Chúa Nhật 31 TN B)

2 Tháng mười một, 2024/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
“Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”.

Bài Ðọc I: Ðnl 6, 2-6

“Hỡi Israel, hãy nghe đây: Ngươi hãy yêu mến Chúa hết lòng ngươi”.

Trích sách Ðệ Nhị Luật.

Ông Môsê nói cùng dân chúng rằng: “Các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Người mà tôi truyền dạy cho các ngươi, cho con cái cháu chắt các ngươi tuân giữ mọi ngày trong đời sống các ngươi, để các ngươi được sống lâu dài.

“Hỡi Israel, hãy nghe đây mà tuân hành các điều Chúa truyền dạy cho ngươi, thì ngươi được phần phúc và sinh sản ra nhiều hơn, như lời Chúa là Thiên Chúa tổ phụ ngươi đã hứa ban cho ngươi phần đất chảy sữa và mật.

“Hỡi Israel, hãy nghe đây, Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất. Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi. Những lời tôi truyền cho ngươi hôm nay, phải ghi tạc vào lòng”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 17, 2-3a. 3bc-4. 47-51ab

Ðáp: Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa.

Xướng: 1) Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa; lạy Chúa là đá tảng, chiến luỹ, cứu tinh.

Ðáp: Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa.

2) Lạy Chúa là Thiên Chúa, là sơn động chỗ con nương mình, là khiên thuẫn, là uy quyền cứu độ, là sức hộ phù con. Con xướng ca khen ngợi cầu cứu Chúa, và con sẽ được cứu thoát khỏi tay quân thù.

Ðáp: Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa.

3) Vạn tuế Thiên Chúa, chúc tụng Ðá Tảng của con, ngợi khen Thiên Chúa là Ðấng cứu độ con. Ngài đã ban cho đức vua được đại thắng, đã tỏ lòng từ bi với Ðấng được xức dầu của Ngài.

Ðáp: Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa.

Bài Ðọc II: Dt 7, 23-28

“Vì lẽ Người tồn tại đời đời, nên Người có một chức tư tế hằng hữu”.

Trích thư gởi cho tín hữu Do Thái.

Anh em thân mến, có nhiều người làm tư tế (của Giao Ước cũ), vì lẽ sự chết ngăn trở họ tồn tại lâu bền. Còn Ðức Kitô, vì lẽ Người tồn tại đời đời, nên Người có một chức tư tế hằng hữu. Bởi đó, Người có thể cứu độ cách vĩnh viễn những ai nhờ Người mà đến với Thiên Chúa, vì Người hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta.

Phải, vì chúng ta cần một vị Thượng tế thánh thiện, vô tội, tinh tuyền, tách biệt khỏi kẻ tội lỗi và đã được nâng cao trên các tầng trời. Người không cần phải như các tư tế hằng ngày dâng lên của lễ trước là đền tội lỗi mình, sau là đền tội lỗi dân chúng, vì Người làm việc ấy chỉ có một lần khi hiến dâng chính mình. Vì Lề luật thì đặt những người yếu đuối làm tư tế, còn lời thề có sau Lề luật thì đặt Người Con hoàn hảo làm Thượng tế đến muôn đời.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Mt 4,4b

Alleluia, alleluia! – Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. – Alleluia.

Phúc Âm: Mc 12, 28b-34

“Ðó là giới răn thứ nhất, còn giới răn thứ hai cũng giống như giới răn thứ nhất”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô.

Khi ấy, có người trong nhóm luật sĩ tiến đến Chúa Giêsu và hỏi Người rằng: “Trong các giới răn điều nào trọng nhất?” Chúa Giêsu đáp: “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”.

Luật sĩ thưa Ngài: “Thưa Thầy, đúng lắm! Thầy dạy phải lẽ khi nói Thiên Chúa là Chúa duy nhất và ngoài Người chẳng có Chúa nào khác nữa. Mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình, và yêu tha nhân như chính mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh”.

Thấy người ấy tỏ ý kiến khôn ngoan, Chúa Giêsu bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”. Và không ai dám hỏi Người thêm điều gì nữa.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm 1: ĐIỀU RĂN ĐỨNG ĐẦU

Giữa một rừng 365 điều cấm làm và 248 điều phải làm dựa theo Luật,

các rabbi thường tranh luận với nhau xem điều răn nào đứng đầu.

Đức Giêsu đã trả lời câu hỏi của vị kinh sư bằng lời mở đầu của kinh Shema,

kinh này được người Do thái đọc sáng chiều mỗi ngày:

“Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.

Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, với tất cả trái tim ngươi,

tất cả linh hồn ngươi, tất cả trí tuệ ngươi, tất cả sức lực ngươi” (Đnl 6, 4).

Đó là điều răn đứng đầu, điều răn thứ nhất trong mọi điều răn (c. 29).

Tuy nhiên, Đức Giêsu còn muốn thêm một điều răn thứ hai nữa.

“Ngươi phải yêu mến người thân cận với ngươi như chính mình ngươi” (Lv 19,18).

Và Ngài kết luận: “Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn nhũng điều răn đó” (c.31).

Đức Giêsu tóm gọn mọi luật lệ trong hai điều răn, bằng hai câu trích trong sách thánh.

Cả hai đều bị chi phối bởi một động từ duy nhất: yêu mến.

Yêu mến Thiên Chúa, yêu mến tha nhân:

đó là câu trả lời của Đức Giêsu cho ông kinh sư Do thái cách đây hai ngàn năm.

Đó cũng là câu trả lời của Ngài cho các Kitô hữu hôm nay.

Ngài mời ta hãy để lòng yêu mến thấm vào mọi lãnh vực của cuộc sống.

Điều răn thứ nhất là yêu mến Thiên Chúa, yêu Ngài với tất cả con người mình (c.30).

yêu Ngài một cách tuyệt đối, và đặt Ngài lên trên mọi người, mọi sự khác,

vì chỉ mình Ngài là Tạo Hóa, tất cả mọi sự khác chỉ là thụ tạo.

Chúng ta yêu mến Thiên Chúa để đáp lại tình Ngài yêu mến chúng ta trước.

Ăn ngay ở lành không đủ.

Theo đạo không phải chỉ là chuyện ăn ngay ở lành.

Tình yêu đối với tha nhân không thay thế được tình yêu đối với Thiên Chúa.

Nhưng tình yêu đối với Thiên Chúa lại đòi hỏi tình yêu đối với tha nhân.

Thương người như thể thương thân.

Nhưng đối với tôi thương thân là gì? Tôi cần gì trong cuộc sống?

Cảm thông, khoan dung, trung tín, tôn trọng, khích lệ, nâng đỡ, hiền từ…

Tôi biết người khác cũng cần những điều ấy như tôi, và tôi muốn trao cho họ.

Có một cuộc đối thoại thực sự và thân tình giữa ông kinh sư với Đức Giêsu.

Ông hỏi, nhưng không có ý thử Ngài.

Câu trả lời của Đức Giêsu khiến ông hoàn toàn nhất trí.

Ông thấy lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân lớn hơn mọi lễ vật trong Đền thờ,

dù ông không coi thường việc dâng lễ vật cho Thiên Chúa.

Phụng vụ phải đi kèm với cuộc sống mến yêu.

Mùa Chay là thời gian trở lại với trái tim của mình

để xem Thiên Chúa có chỗ nào trong trái tim đó.

Chỉ khi tim tôi bị tình yêu Thiên Chúa chinh phục và chiếm trọn,

nó mới có thể mở ra đến vô cùng trước tha nhân.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa,

xin cho con quả tim của Chúa.

Xin cho con đừng khép lại trên chính mình,

nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa

vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường

để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.

Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen,

mọi trả thù ti tiện.

 

Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng,

không một biến cố nào làm xáo trộn,

không một đam mê nào khuấy động hồn con.

Xin cho con đừng quá vui khi thành công,

cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.

Xin cho quả tim con đủ lớn

để yêu người con không ưa.

Xin cho vòng tay con luôn rộng mở

để có thể ôm cả những người thù ghét con. Amen.

Suy niệm 2: YÊU THA NHÂN NHƯ CHÍNH MÌNH

Ngoài Luật trong Ngũ Thư, người Do-thái thời Đức Giêsu

còn phải giữ hơn sáu trăm luật lệ khác.

Bởi đó có một người ngoại giáo xin với Rabbi Hillel:

“Xin thầy dạy tôi tất cả Lề Luật

trong thời gian tôi có thể đứng trên một chân.”

“Điều gì bạn không thích thì đừng làm cho người khác,”

vị Rabbi trả lời, “mọi điều khác chỉ là diễn giải thêm.”

Thánh Phaolô nói: “Yêu người thân cận là chu toàn Lề Luật.”

Khi được hỏi về điều răn thứ nhất trong mọi điều răn,

Đức Giêsu đã trả lời, không phải một, mà đến hai điều răn.

cả hai đều bắt đầu bằng câu “ngươi phải yêu mến”:

yêu mến Thiên Chúa và yêu mến người thân cận.

Đây là bản tóm của Mười Điều Răn được ban trên núi Sinai.

Yêu mến thoạt nghe tưởng là chuyện thuần túy tình cảm,

nhưng thật ra lại là một mệnh lệnh phải làm.

Phải yêu mến Thiên Chúa với tất cả khả năng Ngài ban:

với tất cả trái tim, linh hồn, trí khôn và sức lực.

Yêu đến mức như thế thì phải cố gắng suốt đời,

dần dần để Chúa chiếm lấy toàn bộ con người mình,

dần dần buông bỏ bản thân để tan hòa vào Chúa.

Nhưng Tân Ước với mầu nhiệm Nhập Thể

còn mở ra một đòi hỏi mới của tình yêu.

Đức Giêsu Nadarét là Thiên Chúa Con Một làm người.

Ngài cũng đòi ta yêu Ngài như yêu Thiên Chúa Cha,

yêu đến mức dám hy sinh mạng sống (Lc 14,26).

Ngài đã hỏi Simon Phêrô: “Anh có yêu mến Thầy không?”

và hôm nay Ngài cũng hỏi từng người chúng ta như thế.

Tương quan giữa ta với Ngài là tương quan tình yêu.

Ngài yêu ta và mong ta ở lại trong tình yêu đó (Ga 15,9).

Tình yêu của ta đối với Chúa như thanh dọc của thập giá.

Thập giá cần một thanh ngang là tình yêu cho tha nhân.

Thanh ngang trụ được là nhờ gắn vào thanh dọc.

Đức Giêsu nói đến hai điều răn mến Chúa yêu người

không tách rời nhau, như hai thanh của thập giá.

Không điều răn nào hoàn hảo nếu không có điều răn kia.

Yêu Đấng Tạo Hóa sẽ dẫn chúng ta đến chỗ yêu tha nhân

là những thụ tạo mang hình ảnh của Ngài.

Đức Giêsu còn đưa tình yêu tha nhân đi xa hơn

khi dạy ta không chỉ yêu người thân cận,

mà yêu bất cứ ai cần ta giúp đỡ (Lc 10,37),

yêu cả kẻ thù bằng cách cầu nguyện cho họ (Mt 5,44).

Hơn nữa, Ngài còn mời ta yêu bằng tình yêu lớn nhất,

đó là hy sinh mạng sống cho bạn của mình (Ga 15,13).

Chúng ta thường được dạy điều răn yêu Chúa và tha nhân,

nhưng không được dạy điều răn về yêu bản thân mình.

Có lẽ vì ai cũng nghĩ yêu bản thân là chuyện tự nhiên.

Thật ra “yêu mến người thân cận như chính mình”

hàm chứa việc phải yêu mến bản thân.

Không cần phải ghét bản thân thì mới yêu tha nhân được.

Trái lại, ai không biết yêu bản thân thì khó yêu tha nhân.

Chúng ta vẫn thường mắc tội xúc phạm đến bản thân:

làm hại thân xác bằng ô uế, nghiện ngập,

làm hại tâm hồn bằng thù ghét và khép kín.

Thật sự yêu bản thân mình là một điều răn khó giữ,

vì nó đòi ta phải mở ra trước Thiên Chúa và tha nhân.

Thánh Âu-tinh nói: Chúng ta sẽ bị Chúa xét xử về tình yêu.

Bởi vậy, cứ yêu đi, rồi muốn làm gì thì làm.

Hãy để tình yêu thấm vào từng chi tiết của cuộc sống.

Hãy để cuộc sống được dẫn lối bởi tình yêu.

“Ai không yêu mến, thì không biết Thiên Chúa,

vì Thiên Chúa là Tình yêu” (1 Ga 4,8).

Cầu nguyện:

Mỗi tối, trước khi đi ngủ,

con lại muốn tự khám trái tim của mình.

Con muốn biết điều gì đang chi phối trái tim ấy:

sợ hãi, âu lo, hay an bình, hy vọng,

chán chường, ganh ghét, hay chia sẻ, cảm thông

Con muốn xem trái tim con đang bị ai dẫn dắt:

chiếm đoạt, thèm muốn hay tự hiến, dâng trao.

Lạy Chúa,

con muốn mình có một trái tim khỏe khoắn,

vang những nhịp đập như trái tim của Chúa:

hiền lành và khiêm tốn, tha thứ và bao dung.

Con muốn bắt chước Chúa trên thập giá,

mở trái tim mình ra đến vô cùng,

trao tất cả mà chẳng hề giữ lại.

Lạy Chúa,

Xin cho con tựa đầu vào ngực Chúa,

để trái tim Chúa dạy con biết yêu thương. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nguồn: hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/11/CN-tuan-31-b.jpg 563 1000 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2024-11-02 11:19:402024-11-02 11:19:40Điều răn đứng đầu (03.11.2024 – Chúa Nhật 31 TN B)

Sao Ngài bỏ rơi con (02.11.2024 – Cầu cho các tín hữu đã qua đời)

1 Tháng mười một, 2024/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
Vào giờ thứ chín, Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: “Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”

LỄ NHẤT

Bài Ðọc I: Rm 6, 3–9

“Chúng ta phải sống đời sống mới”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.

Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi. Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 22, 1–3a. 3b–4. 5. 6

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

Xướng: 1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

Alleluia: Ga 11, 25–26

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ”. – Alleluia.

Phúc Âm: Ga 6, 51–59

“Thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân Do Thái rằng: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”. Vậy người Do Thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?”

Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Ðây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”.

Ðó là lời Chúa.

LỄ NHÌ

Bài Ðọc I: Kn 3, 1–9

“Chúa chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu”.

Trích sách Khôn Ngoan.

Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài. Ðối với con mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài đã chịu khổ hình, lòng cậy trông của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao: vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau. Các ngài sẽ xét xử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời. Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 24, 6–7bc. 17–18. 20–21

Ðáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa.

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa.

Ðáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa.

2) Xin cho lòng con được nhẹ bớt lo âu, và giải thoát con khỏi cảnh ưu tư phiền muộn. Xin Chúa coi cảnh lầm than khốn khổ của con, và tha thứ hết mọi điều tội lỗi.

Ðáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa.

3) Xin gìn giữ mạng sống con và giải thoát con, đừng để con bẽ bàng vì đã tìm nương tựa Chúa. Nguyện cho lòng con vô tội và trung thứ bảo vệ con, vì con trông cậy vào Ngài, thân lạy Chúa.

Ðáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa.

Alleluia: 2Tm 2, 11–12a

Alleluia, alleluia! – Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Kitô, thì chúng ta cùng sống với Người; nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. – Alleluia.

Phúc Âm: Lc 23, 33. 39–43

“Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi đã đến nơi gọi là Núi Sọ, chúng đóng đinh Người vào thập giá cùng với hai tên trộm cướp, một đứa bên hữu một đứa bên tả Người. Bấy giờ Chúa Giêsu than thở rằng: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. Rồi chúng rút thăm mà chia nhau áo Người. Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục người rằng: “Nếu ông là Ðấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”.

Ðối lại, tên kia mắng nó rằng: “Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao? Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu?” Và anh ta thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm:

Ðoạn Tin Mừng trên đây kể lại cho ta

cuộc đời Ðức Giêsu vào những giây phút cuối.

Ngài bị liệt đồng hàng với phường trộm cướp

Và ngay cả tên “trộm dữ” cũng không tin Ngài là Con Thiên Chúa

Nó đã mỉa mai: “Nếu ông là Ðấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”

Thế nhưng, niềm tin không loại trừ ai

Mang tiếng là phường trộm cướp, nhưng tên “trộm lành” biết phân định:

Ai mới thật sự là kẻ cướp, ai mới thật sự là người công chính, vô tội.

Thậm chí hắn còn nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa.

Và hắn đã không bỏ lỡ cơ hội: Xin được một chỗ trú ngụ trong Nước của Ngài.

Tháng 11 được dành để nhớ đến những người đã khuất.

Ðã có thời người ta cho rằng theo đạo là bất hiếu,

vì không lo giỗ chạp, cúng vái, nhang đèn…

Nhưng trong niềm tin của Kitô giáo,

điều người chết cần không phải là đồ ăn hay vàng mã,

mà là cầu nguyện, hy sinh, việc lành và thánh lễ.

Ngọn lửa luyện ngục tuy gây nhiều đau đớn không nguôi,

nhưng có sức tẩy luyện, biến đổi và thánh hóa.

Có thể nói các linh hồn ở luyện ngục có phúc hơn ta,

vì họ biết chắc chắn sớm muộn gì cũng vào thiên đàng.

Chính vì thế họ vui lòng để cho tình yêu Chúa thanh lọc,

và càng lúc càng trở nên hoàn hảo hơn để đến gần bên Chúa.

Chúng ta cần sống mầu nhiệm các thánh thông công.

Các thánh trên trời chuyển cầu cho Hội Thánh dưới thế.

Hội Thánh dưới thế chuyển cầu cho các linh hồn đau khổ.

Tất cả liên đới với nhau như các chi thể của một thân thể.

Trong tháng này Hội Thánh mời chúng ta đi viếng nghĩa trang

để cầu nguyện cho các người thân yêu đã lìa đời.

Những hàng mộ nói với ta về cái chết không sao tránh được.

Dù già hay trẻ, dù khỏe hay đau, dù giàu hay nghèo,

nhưng cuối cùng cái chết vẫn là điểm hẹn.

Cái chết được chia đều cho mọi người.

Nghĩa trang có phải là nơi an nghỉ cuối cùng không?

Con người còn gì khi thân xác nát tan trong lòng đất?

Nhờ Ðức Giêsu phục sinh mà mầu nhiệm cái chết được vén mở.

Cái chết chỉ là nhịp cầu đưa ta vào cõi sống.

Con người sống là để chết, và chết là để sống mãi,

sống một cuộc sống hạnh phúc tuyệt vời hơn nhiều.

Cùng với thánh Phanxicô, xin gọi cái chết là chị – Chị Chết.

Ước gì người Kitô hữu học được nghệ thuật sống

nhờ biết đón lấy cái chết trong niềm hy vọng tin yêu.

Cầu nguyện: 

Lạy Chúa Giêsu,

nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này

thì thật là phiền toái.

Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn

vì phải chia tay với những người thân yêu,

vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.

Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết

như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý

nhưng như một hành trình

trở về nguồn cội yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá,

Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui,

và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác,

để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống viên mãn.

Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.

Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi,

chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.

Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.

Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành

đang trên đường về quê hương vĩnh cửu.

Sống một đời và chết một lần.

Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.

Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống. Amen.

LỄ BA

Bài Ðọc I: Rm 5, 5–11

“Chúng ta đã nên công chính trong Máu của Người, và nhờ Người chúng ta được cứu khỏi cơn thịnh nộ”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tình yêu của Thiên Chúa tuôn đổ trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần đã ban cho chúng ta. Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, họa chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.

Vậy phương chi bây giờ, chúng ta đã nên công chính trong máu của Người, và nhờ Người chúng ta sẽ được cứu khỏi cơn thịnh nộ. Bởi chưng nếu khi chúng ta còn là thù nghịch, mà chúng ta đã được giao hoà cùng Thiên Chúa nhờ cái chết của Con Ngài, thì huống chi khi đã được giao hoà, ắt chúng ta sẽ được cứu độ trong sự sống của chính Chúa Kitô. Và không những thế, chúng ta còn được vinh hiển trong Thiên Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người mà bây giờ chúng ta được lãnh ơn giao hoà.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 7 và 8b và 9a. 13–14

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

Xướng: 1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người.

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

3) Lạy Chúa, xin nghe con kêu cầu, xin thương xót và nhậm lời con. Và lạy Chúa, con tìm ra mắt Chúa. Xin Chúa đừng ẩn mặt xa con.

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

4) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy trông đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và trông đợi Chúa.

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

Alleluia: Ga 6,39

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ý của Cha là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết Ta sẽ cho nó sống lại”. – Alleluia.

Phúc Âm: Ga 17, 24–26

“Con muốn rằng Con ở đâu, chúng cũng ở đấy với Con”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, (Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng:) “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thành thế gian. Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con biết Cha, và những người này cũng biết rằng Cha đã sai Con. Con đã tỏ cho chúng biết danh Cha, và Con sẽ còn tỏ cho chúng nữa, để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa”.

Ðó là lời Chúa.

(Hoặc) Phúc Âm: Mc 15, 33-39

Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: “Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Êlia”. Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Ðể xem ông Êlia có đến đem hắn xuống không.” Ðức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trướng trong Ðền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.”

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm:

Ðoạn Tin Mừng trên đây kể lại cho ta

cuộc đời Ðức Giêsu vào những giây phút cuối.

Ngài đã đón nhận cái chết một cách không dễ dàng

sau nhiều giờ hấp hối trên thập giá.

Ðau đớn đến tột cùng, nhục nhã và cô đơn kinh khủng.

Có vẻ lúc đó Cha lại vắng mặt và làm thinh.

“Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”

Ðức Giêsu có cảm tưởng như Cha bỏ rơi mình

vào chính lúc Ngài vâng phục Cha, chấp nhận cái chết.

Chúng ta cần nghe được tiếng kêu xé ruột của Ðức Giêsu.

Ngài kêu bằng tất cả sức lực còn lại của mình.

Ngài kêu một tiếng lớn, rồi tắt lịm.

Chúng ta thích thấy Ðức Giêsu chết bình an hơn,

chết anh hùng hơn và chết lành hơn.

Nhưng Ðấng vô tội, chết thay cho cả nhân loại,

đã chẳng được hưởng chút êm đềm nào từ Thiên Chúa.

Lời cuối của Ngài là một tiếng gọi: Lạy Thiên Chúa của con,

một câu hỏi tại sao mà Ngài không rõ câu trả lời.

Ðức Giêsu đã nhắm mắt trong niềm tin trần trụi.

Tháng 11 được dành để nhớ đến những người đã khuất.

Ðã có thời người ta cho rằng theo đạo là bất hiếu,

vì không lo giỗ chạp, cúng vái, nhang đèn…

Nhưng trong niềm tin của Kitô giáo,

điều người chết cần không phải là đồ ăn hay vàng mã,

mà là cầu nguyện, hy sinh, việc lành và thánh lễ.

Ngọn lửa luyện ngục tuy gây nhiều đau đớn không nguôi,

nhưng có sức tẩy luyện, biến đổi và thánh hóa.

Có thể nói các linh hồn ở luyện ngục có phúc hơn ta,

vì họ biết chắc chắn sớm muộn gì cũng vào thiên đàng.

Chính vì thế họ vui lòng để cho tình yêu Chúa thanh lọc,

và càng lúc càng trở nên hoàn hảo hơn để đến gần bên Chúa.

Chúng ta cần sống mầu nhiệm các thánh thông công.

Các thánh trên trời chuyển cầu cho Hội Thánh dưới thế.

Hội Thánh dưới thế chuyển cầu cho các linh hồn đau khổ.

Tất cả liên đới với nhau như các chi thể của một thân thể.

Trong tháng này Hội Thánh mời chúng ta đi viếng nghĩa trang

để cầu nguyện cho các người thân yêu đã lìa đời.

Những hàng mộ nói với ta về cái chết không sao tránh được.

Dù già hay trẻ, dù khỏe hay đau, dù giàu hay nghèo,

nhưng cuối cùng cái chết vẫn là điểm hẹn.

Cái chết được chia đều cho mọi người.

Nghĩa trang có phải là nơi an nghỉ cuối cùng không?

Con người còn gì khi thân xác nát tan trong lòng đất?

Nhờ Ðức Giêsu phục sinh mà mầu nhiệm cái chết được vén mở.

Cái chết chỉ là nhịp cầu đưa ta vào cõi sống.

Con người sống là để chết, và chết là để sống mãi,

sống một cuộc sống hạnh phúc tuyệt vời hơn nhiều.

Cùng với thánh Phanxicô, xin gọi cái chết là chị – Chị Chết.

Ước gì người Kitô hữu học được nghệ thuật sống

nhờ biết đón lấy cái chết trong niềm hy vọng tin yêu.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,

nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này

thì thật là phiền toái.

Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn

vì phải chia tay với những người thân yêu,

vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.

Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết

như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý

nhưng như một hành trình

trở về nguồn cội yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá,

Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui,

và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác,

để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống viên mãn.

Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.

Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi,

chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.

Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.

Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành

đang trên đường về quê hương vĩnh cửu.

Sống một đời và chết một lần.

Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.

Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nguồn:hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/11/1gt.jpg 718 1280 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2024-11-01 22:06:462024-11-01 22:06:46Sao Ngài bỏ rơi con (02.11.2024 – Cầu cho các tín hữu đã qua đời)

Nước Trời là của họ (01.11.2024 – Lễ các Thánh Nam Nữ)

31 Tháng 10, 2024/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Bài Ðọc I: Kh 7, 2–4, 9–14

“Tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng”.

Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.

Tôi là Gioan đã nhìn thấy một thiên thần khác từ phía mặt trời mọc đi lên, tay cầm ấn Thiên Chúa hằng sống, và lớn tiếng kêu gọi bốn thiên thần được lệnh tàn phá đất và biển mà rằng: “Chớ có tàn phá đất, biển và cây cối trước khi ta đóng ấn trên trán những tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta”. Và tôi đã nghe biết số người được đóng ấn là một trăm bốn mươi bốn ngàn người, thuộc mọi chi tộc Israel.

Sau đó, tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: “Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Ðấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên”.

Rồi tất cả các thiên thần đến đứng chung quanh ngai vàng, và các trưởng lão cùng bốn con vật sấp mình xuống trước ngai mà thờ lạy Thiên Chúa rằng: “Amen! Chúc tụng, vinh hiển, khôn ngoan, cảm tạ, vinh dự, uy quyền và dũng lực cho Thiên Chúa chúng tôi muôn đời. Amen”. Rồi một trong các trưởng lão lên tiếng hỏi rằng: “Những người mặc áo trắng này là ai vậy? Và họ từ đâu mà đến?” Tôi đáp lại rằng: “Thưa ngài, hẳn ngài đã rõ”. Và người bảo tôi rằng: “Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 23, 1–2. 3–4ab. 5–6

Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa.

Xướng: 1) Trái đất và muôn loài trên mặt đất là của Chúa, hoàn cầu và muôn vật trên địa cầu. Vì chưng Chúa đã xây dựng nền móng trái đất trên biển cả, và Người đã tạo dựng nó trên các sông ngòi.

Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa.

2) Ai sẽ được trèo lên núi Chúa? Ai sẽ được dừng bước trong thánh điện? Ðó là người có bàn tay vô tội và tâm hồn trong sạch, không để lòng xuôi theo sự giả trá.

Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa.

3) Người đó sẽ hưởng phúc lành của Chúa và lượng từ bi của Chúa, Ðấng giải thoát họ. Ðấy là dòng dõi của những kẻ tìm Người, những kẻ tìm tôn nhan Thiên Chúa của Giacóp.

Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa.

Bài Ðọc II: 1Ga 3, 1–3

“Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, các con hãy coi: Tình yêu của Thiên Chúa Cha đối với chúng ta thế nào, khiến chúng ta được gọi là con Thiên Chúa và thực sự là thế. Vì đó mà thế gian không nhận biết chúng ta, vì thế gian không biết Người. Các con thân mến, hiện nay, chúng ta là con Thiên Chúa, còn chúng ta sẽ ra sao thì vẫn chưa được tỏ ra. Chúng ta biết rằng: khi được tỏ ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy. Và bất cứ ai đặt hy vọng nơi Người, thì tự thánh hoá mình cũng như Người là Ðấng Thánh.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Mc 11,28

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các con”. – Alleluia.

Phúc Âm: Mt 5, 1–12a

“Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:

“Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời”.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm 1: PHÚC THAY

Trong Tông huấn về ơn gọi nên thánh Gaudete et Exsultate

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về các Mối Phúc (số 63-94).

Ngài viết: “Từ ‘hạnh phúc’ hay ‘được chúc phúc’

trở thành từ đồng nghĩa với “thánh thiện” (số 64).

Người được chúc phúc là người thánh thiện trước mặt Chúa.

Vào lễ Các Thánh, ta luôn được nghe đọc về các Mối Phúc.

Các Mối Phúc là những con đường nên thánh.

Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa,

đã sống tận căn từng Mối Phúc này trong đời Ngài.

Con Thiên Chúa đã thực sự sống đời nghèo khó.

Khi xuống thế làm người, Ngài được quấn tã như bao trẻ thơ,

lao động như một người thợ, và đi rao giảng không chỗ tựa đầu.

Ngài hoàn toàn tay trắng khi bị treo trên thập giá.

Đức Giêsu đã sống tinh thần nghèo khó suốt đời,

khi phó thác đời mình cho Cha, và chỉ nương tựa vào Cha.

Cuộc đời Ngài có những thử thách khiến Ngài phải sầu khổ.

Nỗi đau lớn của Ngài là sự khép lòng của dân trước ơn cứu độ.

Đức Giêsu đã mời người ta sống hiền lành như Ngài (Mt 11,29)

Ngài hiền lành ngồi trên lưng lừa đi vào chỗ chết (Mt 21,5),

và lặng lẽ khi bị tố cáo trước tòa án đạo đời (Mt 27,12).

Đức Giêsu đói khát sự công chính của Thiên Chúa,

khi luôn khát mong làm theo ý Cha, vâng phục cho đến chết.

Ngài là Con yêu dấu, khiến Cha hài lòng (Mt 3,17;17,5).

Đức Giêsu là hiện thân của lòng Chúa Cha thương xót nhân loại.

Tinh thương của Ngài vượt trên mọi bức tường cách ngăn,

để đến với những người bị xã hội ruồng rẫy, và tôn giáo xa lánh.

Tình thương ấy xin tha cho cả kẻ đóng đinh Ngài (Lc 23,34).

Đức Giêsu có trái tim trong sạch, trái tim không quy về mình,

nhưng mở ra để dành trọn cho Cha và cho con người.

Ngài đem lại bình an và hòa giải giữa con người với Thiên Chúa,

giữa các tín hữu với nhau, và giữa Hội Thánh với thế giới.

Nhờ Máu Ngài đã đổ ra trên thập tự, đất trời giao hòa (Cl 1,20).

Đức Giêsu đã sống triệt để mối phúc thứ tám và thứ chín.

Bị bách hại và vu khống, Ngài đã trở thành vị tử đạo tuyệt vời.

Đức Giêsu mời chúng ta sống các Mối Phúc như Ngài đã sống.

Nhưng không phải chỉ có tám hay chín Mối Phúc trong Tin Mừng.

Các mối phúc nằm giữa bao cảnh ngộ mỗi ngày của cuộc sống.

Mẹ Maria được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ (Lc 1,42)

và còn có phúc vì đã tin Chúa sẽ thực hiện điều Ngài nói (Lc 1,45).

“Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Lc 11,27).

“Nếu anh em thực hành, thì phúc cho anh em !” (Ga 13,17).

“Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách…”(Gc 1,12).

“Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

“Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20,29).

Mỗi người chúng ta đều có cảm nghiệm sâu về hạnh phúc

khi quên mình, bỏ mình, để người khác được hạnh phúc,

khi không coi mình là trung tâm, khi vượt qua cái tôi tính toán.

Nhờ đó chúng ta tiến dần đến sự thánh thiện Chúa mời gọi.

Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,16),

nên con người mang nơi mình khả năng nên thánh.

Thiên Chúa ba lần thánh, mời chúng ta: “Hãy nên thánh,

vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các người, Ta là thánh” (Lv 19,2).

Đức Giêsu là mẫu mực tuyệt vời của Thiên Chúa siêu việt.

Nhờ nên một với Con mà ta nên thánh giống Cha trên trời.

Khi mừng lễ các Thánh Nam Nữ trên trời,

chúng ta nhớ mình được kêu gọi nên thánh (Rm 1,7; 1 Cr 1,2),

được kêu gọi sống các mối phúc của Bài Giảng trên Núi.

Như thế là được nếm hạnh phúc của trời cao ngay từ đời này.

Với cuộc đời rất riêng của mình,

mỗi người còn phải tìm ra và sống những mối phúc rất riêng,

từ đó đi vào con đường rất riêng để nên thánh.

 

Cầu nguyện:

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,

Nhờ thế Người là tất cả của tôi.

Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì,

Nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi nơi,

Đến với Người trong mọi sự,

Và dâng Người tình yêu trong mọi lúc.

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,

Nhờ thế tôi không bao giờ muốn tránh gặp Người.

Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng còn gì,

Nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người

Và thực hiện ý Người trong suốt đời tôi. Amen.

(Tagore)

 

Suy niệm 2: NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ

Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh,

hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng.

Các thánh không phải chỉ là những vị được tôn phong,

mà là tất cả những ai đang hưởng hạnh phúc trên trời.

Các thánh thật khác nhau về nhiều mặt:

giới tính, tuổi tác, màu da, tiếng nói, nghề nghiệp,

hoàn cảnh, thời đại, bậc sống, khả năng, tính tình…

Có người không biết viết như thánh nữ Catarina Siêna.

Có người đậu tiến sĩ triết hạng tối ưu như thánh Edith Stein.

Có người làm bao phép lạ phi thường như ngôn sứ Êlia.

Có người sống âm thầm như chị Têrêsa nhỏ.

Nói chung chẳng gì có thể ngăn cản chúng ta nên thánh,

vì Thiên Chúa muốn mọi người nên thánh chẳng trừ ai.

 

Các mối phúc là con đường nên thánh.

Con đường này chính Ðức Kitô đã đi và mời ta cùng đi.

Ngài mời ta có tâm hồn nghèo khó, hiền lành,

nghĩa là hoàn toàn tín thác vào một mình Thiên Chúa,

có lòng khát khao sự công chính, chỉ mong làm trọn ý Ngài.

Trong tương quan với tha nhân, Ðức Kitô mời ta

có lòng thương xót, biết đau nỗi đau của người khác,

có tâm hồn trong sạch, nghĩa là sống ngay thẳng, chân thành,

có tinh thần xây dựng hòa bình và công bằng xã hội,

nghĩa là chăm lo phát triển toàn diện từng người và mọi người.

Sống các mối phúc trên là chấp nhận mối phúc bị bách hại.

Mỗi vị thánh đều sống nổi bật trong một số mối phúc.

Họ đã nếm phần nào hạnh phúc từ đời này

trước khi hưởng hạnh phúc trọn vẹn bền vững trên trời.

 

Chúng ta thường nghĩ nên thánh là chuyện cao siêu

dành cho một thiểu số hết sức đặc biệt.

Thật ra mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh.

“Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời.”

Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn mọi sự thánh thiện.

Ngài mời chúng ta chia sẻ sự thánh thiện của Ngài.

Nên thánh là đáp trả lời mời đó.

Khi chiêm ngắm các thánh, ta có thể hiểu nên thánh là gì.

Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống,

là ra khỏi cái tôi hẹp hòi của mình

để sống hết tình cho Thiên Chúa và tha nhân.

Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa

và trung thành đáp lại trong giây phút hiện tại.

Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa tặng trao,

là để cho Chúa yêu mình, nắm tay mình,

dắt mình vào thế giới riêng tư của Chúa.

Nên thánh là thuộc trọn về Chúa và về anh em,

là để Chúa dần dần chiếm lấy mọi chỗ của đời mình.

 

Chúa mời tôi nên thánh với con người và hoàn cảnh riêng.

với sa ngã của quá khứ và mỏng giòn của hiện tại,

với cái dằm vẫn thường xuyên làm tôi nhức nhối.

Chúa muốn tôi nên thánh với mặt mạnh, mặt yếu của tôi.

Ước gì đời tôi vén mở một nét nào đó của Chúa.

 

Cầu nguyện:

Lạy Cha,

con phó mặc con cho Cha,

xin dùng con tùy sở thích Cha.

 

Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.

Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.

Miễn là ý Cha thực hiện nơi con

và nơi mọi loài Cha tạo dựng,

thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.

 

Con trao linh hồn con về tay Cha.

Con dâng linh hồn con cho Cha,

lạy Chúa Trời của con,

với tất cả tình yêu của lòng con,

 

Vì con yêu mến Cha,

vì lòng yêu mến

thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,

thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,

không so đo,

với một lòng tin cậy vô biên,

vì Cha là Cha của con. Amen.

(Chân phước Charles de Foucauld)

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/CN-XXX-TN-T6-CAC-THANH-NAM-NU-1-1024x576-1.jpg 576 1024 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2024-10-31 08:36:042024-10-31 08:36:04Nước Trời là của họ (01.11.2024 – Lễ các Thánh Nam Nữ)

Chúa nhật 30 thường niên năm B – Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy

26 Tháng 10, 2024/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. Chúa Giêsu đáp: “Ðược, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.

Bài Ðọc I: Gr 31, 7-9

“Ta sẽ lấy lòng từ bi dẫn dắt kẻ đui mù và què quặt”.

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Ðây Chúa phán: Hỡi Giacóp, hãy hân hoan vui mừng! Hãy hò hét vào đầu các Dân ngoại, hãy cất tiếng vang lên, ca hát rằng: “Lạy Chúa, xin hãy cứu dân Chúa là những kẻ sống sót trong Israel”. Ðây, Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất bắc trở về, sẽ tụ họp chúng lại từ bờ cõi trái đất: trong bọn chúng sẽ có kẻ đui mù, què quặt, mang thai và sinh con đi chung với nhau, hợp thành một cộng đoàn thật đông quy tụ về đây. Chúng vừa đi vừa khóc, Ta sẽ lấy lòng từ bi và dẫn dắt chúng trở về. Ta sẽ đưa chúng đi trên con đường thẳng, băng qua các suối nước; chúng không phải vấp ngã trên đường đi: vì Ta đã trở nên thân phụ dân Israel, và Ephraim là trưởng tử của Ta.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 125, 1-2ab. 2cd-3. 4-5. 6

Ðáp: Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.

Xướng: 1) Khi Chúa đem những người từ Sion bị bắt trở về, chúng tôi dường như người đang mơ, bấy giờ miệng chúng tôi vui cười, lưỡi chúng tôi thốt lên những tiếng hân hoan.

Ðáp: Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.

2) Bấy giờ dân thiên hạ nói với nhau rằng: “Chúa đã đối xử với họ cách đại lượng.” Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.

Ðáp: Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.

3) Lạy Chúa, hãy đổi số phận của con, như những dòng suối ở miền nam. Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan.

Ðáp: Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.

4) Thiên hạ vừa đi vừa khóc, tay mang thóc đi gieo; họ trở về trong hân hoan, vai mang những bó lúa.

Ðáp: Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.

Bài Ðọc II: Dt 5, 1-6

“Con là tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê”.

Trích thư gửi tín hữu Do Thái.

Tất cả các vị thượng tế được chọn giữa loài người, nên được đặt lên thay cho loài người mà lo việc Chúa, để hiến dâng lễ vật và hy lễ đền tội. Người có thể thông cảm với những kẻ mê muội và lầm lạc, vì chính người cũng mắc phải yếu đuối tư bề. Vì thế, cũng như người phải dâng lễ đền tội thay cho dân thế nào, thì người dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy. Không ai được chiếm vinh dự đó, nhưng phải là người được Thiên Chúa kêu gọi như Aaron.

Cũng thế, Ðức Kitô không tự dành lấy quyền làm thượng tế, nhưng là Ðấng đã nói với Người rằng: “Con là Con Cha, hôm nay Cha sinh ra Con”. Cũng có nơi khác Ngài phán: “Con là tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê”.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Lc 19,38

Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng nhân danh Chúa mà đến; bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. – Alleluia.

Phúc Âm: Mc 10, 46-52

“Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô.

Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ và một đám đông, thì con ông Timê tên là Bartimê, một người mù đang ngồi ăn xin ở vệ đường, khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nadarét, liền kêu lên rằng: “Hỡi ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi”. Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: “Hỡi con vua Ðavít, xin thương xót tôi”.

Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: “Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh”. Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. Chúa Giêsu đáp: “Ðược, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.

Ðó là lời Chúa.

BÀI 1: NGƯỜI GỌI ANH – ANH THEO NGƯỜI

Suy Niệm

Tin Mừng Máccô kể chuyện Đức Giêsu chữa hai người mù.
Một người ở Bếtsaiđa, khi Ngài và các môn đệ
bắt đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem (Mc 8,22-26).
Người kia, ở cuối cuộc hành trình này (Mc 10,46-52),
khi Ngài ra khỏi Giêricô để chuẩn bị vào Giêrusalem.
Anh mù ở Bếtsaiđa được người ta dẫn tới xin chữa.
Còn anh mù Ba-ti-mê trong bài Tin Mừng ta vừa nghe
thì ngồi ăn xin bên vệ đường ở Giêricô để kiếm sống.
Chắc anh nghĩ hôm nay sẽ là một ngày như mọi ngày.
Anh sống nhờ lòng tốt của khách hành hương
lên đền thờ Giêrusalem qua ngả Giêricô.

Bỗng anh nghe những bước chân của một đám đông,
và sướng vui khi biết Đức Giêsu có mặt trong đoàn.
Đây là vị ngôn sứ lẫy lừng ở vùng Nadarét.
Ngài có thể chữa bệnh, trừ quỷ và hoàn sinh kẻ chết.
Ngài đã dùng mấy ổ bánh mà nuôi cả đám đông.
Từ lâu anh mong có dịp gặp Ngài,
hy vọng Ngài cho đôi mắt anh được sáng.
Bây giờ Ngài đang đi ngang, trước mặt anh.
Cơ hội cho một cuộc hạnh ngộ đã đến gần,
dù Ngài không thấy anh, và anh cũng không thấy Ngài.
Làm sao báo cho Ngài biết là anh đang chờ Ngài?
Anh chỉ có một thứ vũ khí là tiếng kêu.
Anh tin chỉ cần Ngài nghe được tiếng kêu của anh
là Ngài biết có một người đang cần trợ giúp.
Anh đã cố kêu thật to, gọi tên riêng của Ngài,
tuyên xưng Ngài là Đấng Mêsia, Con vua Đavít.
Anh chẳng xin gì, chỉ xin Ngài dủ tình xót thương.
Tiếng kêu thống thiết đầy niềm tin và hy vọng.
Càng bắt anh im đi, anh càng kêu to hơn.
Tiếng kêu kiên trì đã chạm đến trái tim Đức Giêsu,
làm Ngài dừng chân, và cả nhóm cũng dừng chân.

Anh mù đã gọi Đức Giêsu, bây giờ Ngài gọi anh.
Rõ ràng Ngài muốn gặp anh, dù chưa biết anh là ai.
Khi nghe biết Đức Giêsu gọi, anh vội vã đứng dậy,
vất lại chiếc áo choàng vướng víu để đến với Ngài.
Đức Giêsu biết anh cần gì,
nhưng vẫn hỏi câu Ngài từng hỏi Giacôbê và Gioan:
“Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10,36).
Anh không xin được ngồi ghế cao trong vinh quang,
chỉ xin được thấy, cho anh thoát cảnh mù lòa,
để khỏi phải sống bằng tiền bố thí.
Không rõ Đức Giêsu đã làm gì để chữa mắt anh.
Chỉ biết anh nhìn thấy được, ngay sau khi Ngài nói:
“Anh hãy đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh!”

“Anh hãy đi!”: Đức Giêsu đã nói như thế với anh nhà giàu.
Anh hãy đi, bán, cho, rồi trở lại và theo tôi (Mc 10,21).
Ngài mời anh nhà giàu theo Ngài làm môn đệ,
nhưng anh này không buông bỏ được của cải để theo.
Giờ đây Đức Giêsu cũng bảo anh mù hãy đi,
nhưng Ngài không mời anh theo làm môn đệ.
Vậy mà ngay sau khi được sáng mắt,
anh đã theo Ngài lên Giêrusalem.
Anh không ngồi ở vệ đường nữa,
nhưng nhập với đám đông theo Ngài trên đường.
Có một cuộc đổi đời chỉ sau một lần gặp gỡ!

Không rõ sau này anh có vào nhóm của Thầy không,
có theo Thầy Giêsu đến hết cuộc Khổ nạn không.
Điều quý nơi anh là lòng cương quyết muốn gặp Thầy.
Chẳng ai gặp được Thầy mà không cần nỗ lực.
Ông Dakêu đã phải chạy và phải leo lên cây.
Anh mù phải kêu to, át tiếng đám người quát nạt.
Xin cho mắt và lòng tôi bừng sáng, nhờ gặp được Giêsu.

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
Ai trong chúng con cũng có những điểm mù,
những vùng tối, nơi chúng con không thấy về mình,
nhưng người khác lại thấy rõ.
Chính vì thế chúng con cần nhau để ra khỏi sự mù lòa,
cần lắng nghe để biết về mình nhờ người khác,
cần cởi mở để cho người khác biết về mình.

Lạy Chúa Giêsu là Ánh sáng,
Chẳng ai trong chúng con muốn mình bị khiếm thị,
nhưng chúng con vẫn hay ở lại trong bóng tối,
vì bóng tối cho chúng con sự yên ổn,
và che giấu điều chúng con không muốn thấy nơi mình.
Xin cho chúng con dám mở ra để gặp ánh sáng
nơi những người khác ý kiến, khác lập trường,
nhờ đó những góc khuất được vén mở.

Lạy Chúa Giêsu,
xin cho chúng con khát mong ánh sáng của sự thật
hơn người mù mong sáng mắt.
Xin cho chúng con cùng nhau tìm kiếm ánh sáng Chúa
với trọn cả tâm hồn,
để ánh sáng Chúa giải phóng chúng con.

 

BÀI 2: XIN THƯƠNG XÓT TÔI

Suy Niệm

Con mắt là một bộ phận hết sức mong manh,
dễ bị tổn thương, dễ bị nhiễm trùng,
nhất là trong điều kiện vệ sinh ngày xưa.
Chúng ta không rõ lý do khiến anh Báctimê bị mù,
chỉ biết anh không mù từ lúc lọt lòng mẹ.
Anh đã từng được thưởng thức ánh nắng ban mai
hay nhìn ngắm những người thân yêu, bè bạn.
Bây giờ chỉ có bóng tối triền miên.
Anh Báctimê sống bằng nghề hành khất,
ngồi ăn xin bên vệ đường, sống bên lề xã hội.
Danh tiếng của Ðức Giêsu Nadarét, anh đã nghe nhiều.
Ngài có thể làm người mù bẩm sinh sáng mắt.
Anh tin vào Ngài, thầm mong có ngày được gặp.

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc hạnh ngộ ấy.
Rất tình cờ, Ðức Giêsu đi ngang qua đời anh.
Anh mù lòa, ngồi đó như chỉ chờ giây phút này.
Khi nghe biết Ðức Giêsu cùng với đám đông đi qua,
anh thấy cơ may đã đến.
Tất cả sức mạnh của anh nằm ở tiếng kêu,
tiếng kêu thống thiết bi ai của một người đau khổ,
nhưng cũng là tiếng kêu đầy tin tưởng, hy vọng.
"Lạy ông Giêsu, Con vua Ðavít, xin thương xót tôi!"
Tiếng kêu báo hiệu một sự hiện diện, một cầu cứu.
Nhiều người muốn bịt miệng anh,
nhưng anh chẳng sợ gì đe dọa.
Càng bị đe dọa, anh càng gào to hơn nhiều.
Cuối cùng tiếng của anh đã đến tai Ðức Giêsu.
Ngài dừng lại và sai người đi gọi anh,
vì Ngài cũng chưa rõ anh đang ở đâu.
Khi biết mình được gọi, anh vội vã và vui sướng
vất bỏ cái áo choàng vướng víu,
nhẩy cẫng lên mà đến với Ðức Giêsu.
Anh đi như một người đã sáng mắt,
bởi thực ra mắt của lòng anh đã sáng rồi.
Khi được khỏi, lòng tin của anh trở nên mạnh hơn.
Anh thấy lại mặt trời, anh gặp Ðấng cho anh ánh sáng.
Không ngồi ở vệ đường nữa,
anh đứng lên đi theo Ðức Giêsu.

“Xin thương xót tôi. Xin cho tôi nhìn thấy lại” (Mc 10,51).
Ðây có phải là tiếng kêu của tôi không?
Khả năng thấy là một khả năng mỏng dòn.
Tôi có thể thấy điều này mà không thấy điều kia.
Tôi có thể lúc thấy, lúc không, hay cố ý không muốn thấy.
Lắm khi tôi không đủ sức để ra khỏi sự mù lòa của mình.
Tôi có kêu gào với Chúa để xin được ơn thấy lại không?
Một người dù đã được xóa mù, vẫn có thể mù lại.
Chính vì thế tôi cứ phải xin cho mình được thấy luôn.
Thấy mình bé nhỏ, thấy Chúa bao la, thấy anh em dễ mến.
Thấy là đi vào một con đường dài hun hút.
Chúng ta phải được Chúa xóa mù suốt đời.
Chỉ trong ánh sáng của Chúa, tôi mới nhìn thấy ánh sáng.

Gợi Ý Chia Sẻ

1. Bạn nghĩ gì về nạn hành khất ở nơi bạn sống? Ðâu là nguyên nhân? Ðâu là cách giải quyết tốt nhất?

2. Nhiều người tự giam mình trong sự mù lòa. Họ chỉ thấy điều họ muốn thấy. Họ bị khép kín trong thế giới chủ quan của họ. Có khi nào bạn thấy mình mù lòa về bản thân không? Làm sao bạn được sáng mắt trở lại?

Cầu Nguyện

Như người mù ngồi bên vệ đường
xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.

Xin cho con được thấy bản thân
với những yếu đuối và khuyết điểm,
những giả hình và che đậy.

Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con
cả những khi con không cảm nghiệm được.
Xin cho con thực sự muốn thấy,
thực sự muốn để cho ánh sáng Chúa
chiếu dãi vào bóng tối của con.

Như người mù ngồi bên vệ đường
xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nguồn: hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/3pd.png 480 640 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2024-10-26 09:31:062024-10-26 09:34:22Chúa nhật 30 thường niên năm B – Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy

Chúa Nhật 29 thường niên năm B – Nhóm Mười Hai

20 Tháng 10, 2024/0 Comments/in Bài giảng, Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ

Tin Mừng theo thánh Mác-cô 10,35-45

35 Khi ấy, hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói : “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36 Người hỏi : “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?” 37 Các ông thưa : “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38 Đức Giê-su bảo : “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” 39 Các ông đáp : “Thưa được.” Đức Giê-su bảo : “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống ; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.” 41 Nghe vậy, nhóm mười (môn đệ) kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy : ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em ; 44 ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”

NHÓM MƯỜI HAI CỦA ĐỨC GIÊ-SU

Tin Mừng hôm nay cho biết Đức Giê-su đang ưu tư về “chén mình sắp uống”, trong khi các môn đệ thì lại quan tâm đến vị trí, chỗ đứng chỗ ngồi của mình mà thôi. Có thể chúng ta thường thắc mắc không hiểu tại sao các môn đệ của Đức Giê-su sống gần bên Thầy lại có nhiều phản ứng vô tâm vô tình, nhiều câu hỏi ngờ nghệch đến thế. Xem ra việc Đức Giê-su “thức suốt đêm cầu nguyện” để rồi “kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là tông đồ” chẳng có hiệu quả gì. Xem ra trò chẳng hiểu Thầy bao nhiêu, còn Thầy thì luôn tin tưởng và kiên nhẫn chỉ bảo cho trò từng vấn đề, trong từng chi tiết…

Bản văn Tin Mừng chúng ta vừa nghe thật sự không có chỗ nào thánh Mác-cô dùng từ “môn đệ” hay “tông đồ”, hay “Nhóm Mười Hai”. Thánh Mác-cô chỉ kể lại câu chuyện hai ông Gia-cô-bê và Gio-an đến xin cho họ được ngồi bên tả và bên hữu Thầy Giê-su. Điều này khiến mười người còn lại “tức tối” (ἀγανακτέω) khiến Đức Giê-su phải lên tiếng cho 12 người này biết điều gì cần xin, điều gì là quan trọng và hướng dẫn họ tư cách “làm lớn”, làm lãnh đạo có nghĩa làm “đầy tớ” phục vụ.

Chúng ta cùng đọc lại cách trình bày của Tin Mừng Nhất Lãm để hiểu về Nhóm Mười Hai :

Mt 10,1-16

“Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ :

đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông ; ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô ; ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người.

Lc 6,12-16

Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.

Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ.

Đó là ông Si-môn mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là các ông Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn biệt danh là Quá Khích, Giu-đa con ông Gia-cô-bê, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người đã trở thành kẻ phản bội.

Mc 3,13-19

Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ. Người lập Nhóm Mười Hai và đặt tên cho ông Si-môn là Phê-rô, rồi có ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, và ông Gio-an em ông Gia-cô-bê –Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là con của thiên lôi–, rồi đến các ông An-rê, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Ta–đê-ô, Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.

Chúng ta thấy có đôi chút khác biệt trong 3 danh sách trên, vì có chút diễn giải riêng của mỗi tác giả Tin Mừng Nhất lãm. Còn ông Gio-an có đề cập đến Nhóm Mười Hai, nhưng không đưa ra danh sách đầy đủ, chỉ nói chung chung, trừ Ba-tô-lô-mê-ô. Phải chăngBa-tô-lô-mê-ôlà họ của Na-tha-na-en, “người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối” (Ga 1,45-47) ?

Nhưng nhìn chung, các Tin Mừng trình bày đầy đủ danh sách 12 người theo sát Đức Giê-su : Si-môn Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Tô-ma, Mát-thêu, Gia-cô-bê, Ta-đê-ô, Si-môn, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt.

Nhóm Mười Hai, những người được chọn, biểu tượng của Dân Mới của Thiên Chúa

Trên thực tế, con số 12 không hề mang tính giai thoại nhưng có ý nghĩa trong Kinh Thánh, cho thấy có một sự lựa chọn. Cựu Ước đề cập nhiều bộ lạc chi tộc, nhưng chúng ta thường nghe nói đến 12 chi tộc It-ra-en hợp thành dân Thiên Chúa, tương ứng với tên mười hai người con trai của tộc trưởng Gia-cóp. Con số 12 chi tộc này tượng trưng cho toàn thể nhà It-ra-en. Còn trong Tân Ước, Tin Mừng nhắc đến danh tánh 12 môn đệ/tông đồ của Đức Giê-su và thường được gọi vắn tắt là Nhóm Mười Hai. Các ngài là những người được chọn, nhưng Đức Giê-su không chọn một cách tình cờ, mà đã cầu nguyện suốt đêm để hôm sau chọn lựa. Đến khi ông Giu-đa tự sát, chỉ còn lại 11 người thì Nhóm Mười Hai buộc phải chọn người thay thế. Sách Công vụ Tông Đồ 1,23-26 thuật lại : “Họ đề cử hai người : ông Giô-xếp…và ông Mát-thi-a. Họ cầu nguyện rằng : ‘Lạy Chúa, chính Chúa thấu suốt lòng mọi người ; giữa hai người này, xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai để nhận chỗ trong sứ vụ Tông Đồ, chỗ Giu-đa đã bỏ để đi về nơi dành cho y.’ Họ rút thăm, thăm trúng ông Mát-thi-a : ông được kể thêm vào số mười một Tông Đồ”. Sau biến cố Phục sinh, Nhóm Mười Hai có sứ mạng làm chứng rằng Giáo hội chính là Dân Mới của Thiên Chúa. Thánh Gia-cô-bê đã từng ám chỉ Dân Mới trong lời chào thăm như sau : “Tôi là Gia-cô-bê, tôi tớ của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô, kính gửi mười hai chi tộc đang sống tản mác khắp nơi. Chúc anh em được an vui mạnh khoẻ !” (Gc 1,1)

Theo Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giê-su kêu gọi các môn đệ, chọn mười hai ông và gọi là Tông Đồ. Như vậy, Nhóm Mười Hai vừa là “môn đệ”, vừa là “tông đồ” ? Vậy Môn đệ là gì ? Tông đồ là gì ? vì sao Nhóm Mười Hai cần đến hai danh từ này để xác định căn tính ?

Danh từ “môn đệ” talmîd תַּלְמִיד chỉ xuất hiện một lần trong Cựu Ước, trong sách I Sử Biên niên 25,8 : “Họ bắt thăm về phiên công tác phải giữ, nhỏ cũng như lớn, thầy cũng như trò”. Ngoài ra còn có gốc tính từ chỉ những người học hỏi/thực hành : “Người đánh thức để tôi lắng tai nghe như những người môn đệ” kallimmûdîm‎ כַּלִּמּוּדִֽים (Is 50,4). Mối quan hệ thầy-trò phát triển khi Do-thái giáo ra đời và khi dân Ít-ra-en tiếp xúc với nền văn hóa Hy-lạp. Vì thế, người thầy sẽ truyền lại cho các môn đệ của mình thẩm quyền để thực thi sứ mạng.

Trong Tân Ước, nếu từ “môn đệ” xuất hiện 216 lần thì từ “tông đồ” chỉ xuất hiện 9 lần : 1 lần trong Mát-thêu, 2 lần trong Mác-cô và 6 lần trong Lu-ca. Tin Mừng thánh Gio-an không bao giờ dùng từ “tông đồ” để nói về Nhóm Mười Hai, mà chỉ dùng “môn đệ”, và nhóm “các môn đệ” thường có nghĩa rộng hơn Nhóm Mười Hai, vì bao hàm tất cả người tin qua mọi thời đại. Ngược lại, các sách còn lại trong Tân Ước, đặc biệt là sách Công vụ và các thư của thánh Phao-lô thì dùng “tông đồ” đến 71 lần. Còn trong Cựu Ước (bản Bảy Mươi) thì không thấy từ tương đương, ngoại trừ người Do-thái giáo dùng để ám chỉ các đại diện ở Thượng Hội đồng hay sứ giả của thầy thượng tế.

Trong tiếng Hy-lạp “môn đệ” là Μαθητής, có gốc động từ manthanô μανθάνω có nghĩa là học hỏi/học tập. Vì vậy, trong Tân Ước, chúng ta thấy danh từ này mô tả thực tế về những “môn đệ của Mô-sê” (Ga 9,28), “môn đệ của nhóm Pha-ri-sêu” (Mt 22, 15-16), môn đệ của Gio-an Tẩy Giả (Cv 19,1) và đặc biệt môn đệ của Đức Giê-su (Mt 10,1 ; Mc 6,45 ; Lc 5,30 ; Ga 4,1…). Sau cái chết của Đức Giê-su, sách Công vụ Tông Đồ ám chỉ tất cả Ki-tô hữu đều là môn đệ (Cv 9,1). Như thế, học trò sẽ gắn bó với thầy chứ không chỉ gắn bó với lời dạy của thầy. Làm môn đệ của Đức Giê-su, mỗi người được kêu gọi từ bỏ tất cả mọi sự để đi theo Thầy (Mt 8, 21-22) và thậm chí dám hiến mạng sống mình vì Thầy (Mt 10, 23-25).

Còn “tông đồ” có gốc Hy-lạp cổ là ἀπόστολος / apóstolos ám chỉ một người được sai đi cho một sứ mạng, đảm nhận trách nhiệm của sứ mạng. Từ này ám chỉ Nhóm Mười Hai, những người đã đồng hành cùng Đức Giê-su trong suốt hành trình rao giảng của Người và đã trở thành nhân chứng của Tin Mừng Phục sinh. Đối với Tin Mừng Lu-ca và sách Công vụ, chỉ có các môn đệ trong Nhóm Mười Hai mới được gọi là “tông đồ”. Tuy nhiên, như đã biết, thánh Phao-lô dù không thuộc Nhóm Mười Hai, nhưng vẫn tự xưng là “tông đồ” (Gl 1,1) mà không cần giải thích gì thêm, thậm chí ngài còn được nhìn nhận là “tông đồ của các dân ngoại”.

Sứ mạng của Nhóm Mười Hai

Như vậy, Nhóm Mười Hai là những người thuộc mọi thành phần trong dân (nông dân, kẻ thu thuế, người đánh cá, kẻ quá khích) được mời gọi đi theo Thầy Giê-su, đó là “những kẻ Người muốn”. Và các ông tự nguyện“đến với Người”. Thánh Mác-cô nói rõ : Đức Giê-su “lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ”(Mc 3,13-14).Động từ μένω – “ở lại” với Đức Giê-su, hàm nghĩa hiện diện và chia sẻ cuộc sống với Thầy Giê-su trong tư cách là học trò. Việc “ở lại với Thầy Giê-su” làm cho họ trở thành người môn đệ, nhận biết Người là Đấng Mê-si-a để rồi được Người sai đi công bố Tin Mừng cứu độ.

Bên cạnh đó, Tin Mừng Mt 10,1-16 cho chúng ta hiểu rõ sứ mạng Nhóm Mười Hai trong chi tiết cụ thể : “Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng : “…hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. Dọc đường hãy rao giảng rằng : Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn…Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy… Nếu người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại… Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”.

Sau biến cố phục sinh và thăng thiên của Chúa Ki-tô, Nhóm Mười Hai được lãnh nhận ân huệ Chúa Thánh Thần vào ngày Lễ Ngũ Tuần, mạnh mẻ ra đi làm chứng nhân Tin Mừng Phục Sinh, loan truyền ơn cứu độ cho thế giới, cho dù phải hy sinh chịu chết. Nhóm Mười Hai chu toàn trách nhiệm lãnh đạo trong cộng đoàn Hội Thánh tiên khởi. Về sau, sự phát triển của cộng đoàn tiên khởi và sự đa dạng về gốc gác của các thành viên đã nhanh chóng buộc những người có trách nhiệm phải đáp ứng nhiều mối quan tâm cũng như nhu cầu cấp bách của cộng đồng, vậy là mỗi người trong Dân Thánh Mới đều đảm nhận một trách vụ trong cộng đồng : “Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn. Và chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Ki-tô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hợp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô” (Ep 4,10-13).

Ngày nay, một khi chúng ta đã xác định được căn tính Nhóm Mười Hai là môn đệ và là tông đồ của Chúa Giê-su, thì chúng ta có thể hiểu rằng bất kỳ người Ki-tô hữu nào tin và đi theo Chúa Giê-su, chia sẻ cuộc sống và sứ mạng của Người, thì đều tiếp nối sứ mạng của Nhóm Mười Hai, làm hình thành một Dân Mới, gắn kết hiệp nhất với nhau nhờ một đức tin và một phép rửa để gầy dựng Nước Thiên Chúa giữa thế gian này. Thánh Phao-lô đã khuyên nhủ : “Anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại ; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hợp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4,1-6).

Cầu nguyện :

Lạy Thiên Chúa cao cả quyền năng, xin nghe lời chúng con cầu nguyện cho Hội Thánh là Mẹ chúng con và là Hiền thê của Đức Ki-tô, Con Một Chúa. Ước gì Hội Thánh được chia sẻ vinh quang với Đức Ki-tô khi làm cho muôn dân được tham dự vào sự sống của Chúa và được mang danh là Ki-tô hữu. Ước gì đoàn con của Hội Thánh ngày càng thêm đông đảo và trở thành những tín hữu đích thực của Đức Ki-tô. A-men.

Nguồn: tgpsaigon.net

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/2pd.jpg 435 580 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2024-10-20 22:08:082024-10-25 22:15:24Chúa Nhật 29 thường niên năm B – Nhóm Mười Hai

Lời Chúa hằng ngày – Chúa Nhật 28 Thường niêm năm B

12 Tháng 10, 2024/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày/by Tấm Bánh

Bài Ðọc I: Kn 7, 7-11

“Ðem so sánh sự giàu sang với sự khôn ngoan, tôi kể sự giàu sang như không”.

Bài trích sách Khôn Ngoan.

Tôi đã ước ao được ban sự hiểu biết, tôi cầu khẩn được thần trí khôn ngoan đến cùng tôi. Tôi lấy sự khôn ngoan làm hơn vương quốc và ngai vàng: Ðem so sánh sự giàu sang với sự khôn ngoan, tôi kể sự giàu sang như không. Tôi cũng không so sánh nó với kim cương, vì mọi thứ vàng đem so sánh với nó thì kể như hạt cát nhỏ bé, và bạc đem để trước nó thì kể như đất bùn.

Tôi yêu quý sự khôn ngoan hơn sức khoẻ và sắc đẹp, tôi lấy nó làm hơn được sự sáng, vì sự sáng của nó không hề tắt. Tất cả mọi sự tốt lành đều đến cùng tôi làm một với nó, và nhờ tay của nó, tôi được đoan chính không kể xiết.

 

ĐÁP CA: Tv 89, 12-13. 14-15. 16-17

Đáp: Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan (c. 14).

Xướng: 1) Xin dạy chúng con biết đếm ngày giờ, để chúng con luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chứ còn để tới bao giờ? Xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài. – Đáp.

2) Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin ban niềm vui thế cho những ngày Chúa hạ nhục chúng con, thế cho những năm chúng con mục kích nạn tai. – Đáp.

3) Xin cho các bầy tôi nhìn thấy sự nghiệp của Chúa, và cho con cháu họ được thấy vinh quang Ngài. Xin cho chúng con được hưởng ân sủng Chúa là Thiên Chúa chúng con, sự nghiệp tay chúng con làm ra, xin Ngài củng cố; xin Ngài củng cố sự nghiệp tay chúng con làm ra. – Đáp.

 

Bài Ðọc II: Dt 4, 12-13

“Lời của Chúa phân tách tình cảm với ý nghĩ của tâm hồn”.

Bài trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, lời Thiên Chúa là lời hằng sống, linh nghiệm, sắc bén hơn mọi thứ gươm hai lưỡi, thấu suốt đến nỗi phân rẽ linh hồn với thần trí, gân cốt với tuỷ não, phân tách tình cảm với ý nghĩ của tâm hồn. Không một tạo vật nào ẩn khuất được trước mặt Chúa; tất cả mọi sự đều phơi trần và tỏ ra trước mắt của Ðấng mà chúng ta phải trả lẽ.

 

Tin mừng: Mc 10, 17-27

17 Khi ấy Chúa Giêsu vừa lên đường, thì một người chạy lại quỳ gối trước Người và hỏi: “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời ?” 18 Chúa Giêsu trả lời: “Sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Chẳng có ai là nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa.

19 Ngươi đã biết các giới răn: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ”. 20 Người ấy thưa: “Lạy Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ”.

21 Bấy giờ Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương mà bảo rằng: “Ngươi chỉ thiếu một điều, là ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”.

22 Nhưng người ấy nghe những lời đó, thì sụ nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

23 Lúc đó Chúa Giêsu nhìn chung quanh và bảo các môn đệ rằng: “Những người giàu có vào nước Thiên Chúa khó biết bao!” 24 Các môn đệ kinh ngạc vì những lời đó. Nhưng Chúa Giêsu lại nói tiếp và bảo các ông rằng: “Hỡi các con, những kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào nước Thiên Chúa biết bao! 25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước Thiên Chúa”.

26 Các ông càng kinh ngạc hỏi nhau rằng: “Như vậy thì ai có thể được cứu độ ?” 27 Chúa Giêsu chăm chú nhìn các ông, và nói: “Ðối với loài người thì không thể được, nhưng không phải đối với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa làm được mọi sự”.

 

Suy niệm: Ðức Giêsu nhấn mạnh đến sự chọn lựa của một người đi theo Chúa: chọn của cải dưới đất hay kho tàng trên trời ?

Người thanh niên trong bài Tin Mừng là một người giàu có và giữ nền đạo đức từ thuở nhỏ. Nhưng khi Ðức Giêsu đưa ra một điều kiện cao hơn: chia sẻ của cải cho tha nhân, thì anh ta chán nản bỏ đi. Ðức Giêsu cho chúng ta thấy: để được vào Nước Trời, không chỉ giữ đúng, giữ đủ các điều luật, không làm gì hại đến ai như anh nhà giàu kia, mà còn phải thực thi bác ái. Vì chỉ ai sẵn sàng nên nghèo khó về bản thân để mưu ích cho anh em mới xứng đáng đón nhận ơn cứu độ.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa dạy chúng con muốn theo Chúa, muốn vào được Nước Trời, phải từ bỏ tất cả. Mỗi người chúng con đi theo Chúa nhưng vẫn muốn tích trữ cho mình thật nhiều của cải. Tiền của đời này là một trở ngại, biến chúng con thành nô lệ, ích kỷ và khó thoát ra được để đến với anh em. Xin cho chúng con hiểu rằng của cải trần gian chóng qua mau hết. Ðược Chúa, được Nước Trời mới là hạnh phúc đích thực. Amen.

Ghi nhớ: “Ngươi hãy đi bán tất cả gia tài rồi đến theo Ta”.

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/01032019_143547.jpg 400 800 Tấm Bánh https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Tấm Bánh2024-10-12 16:17:182024-10-12 16:21:17Lời Chúa hằng ngày – Chúa Nhật 28 Thường niêm năm B

Chúa nhật 27 thường niên B – Không được phân ly

10 Tháng 10, 2024/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
Bấy giờ Chúa Giêsu đáp lại: “Chính vì sự cứng lòng của các ông, mà Môsê đã viết ra điều luật đó. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình, và hai người sẽ nên một huyết nhục. Như thế, họ không còn là hai mà là một huyết nhục. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ”.

Bài Ðọc I: St 2, 18-24

“Cả hai nên một thân thể”.

Trích sách Sáng Thế.

Chúa là Thiên Chúa phán: “Ðàn ông ở một mình không tốt. Ta hãy tạo dựng cho nó một nội trợ giống như nó”. Sau khi lấy bùn đất dựng nên mọi thú vật dưới đất và toàn thể chim chóc trên trời, Thiên Chúa dẫn đến trước mặt Ađam để coi ông gọi chúng thế nào, và sinh vật nào Ađam gọi, thì chính đó là tên nó. Ađam liền đặt tên cho mọi súc vật, chim trời và muông thú. Nhưng Ađam không gặp một người nội trợ giống như mình.

Vậy Thiên Chúa khiến cho Ađam ngủ say, và khi ông đang ngủ, Người lấy một xương sườn của ông, và đắp thịt lại. Thiên Chúa làm cho chiếc xương sườn đã lấy từ Ađam trở thành người đàn bà, rồi dẫn đến Ađam. Ađam liền nói: “Bây giờ đây xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi. Người này sẽ được gọi là người nữ, vì bởi người nam mà ra”. Vì thế, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình, và cả hai nên một thân thể.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 127, 1-2. 3. 4-5. 6

Ðáp: Nguyện Chúa chúc phúc cho chúng con hết mọi ngày trong đời sống chúng con!

Xướng: 1) Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người! Công quả tay bạn làm ra bạn được an hưởng, bạn được hạnh phúc và sẽ gặp may.

Ðáp: Nguyện Chúa chúc phúc cho chúng con hết mọi ngày trong đời sống chúng con!

2) Hiền thê bạn như cây nho đầy hoa trái, trong gia thất nội cung nhà bạn. Con cái bạn như chồi non của khóm ô-liu, ở chung quanh bàn ăn của bạn.

Ðáp: Nguyện Chúa chúc phúc cho chúng con hết mọi ngày trong đời sống chúng con!

3) Ðó là phúc lộc dành để cho người biết kính sợ Chúa. Nguyện Chúa từ Sion chúc phúc cho bạn, để bạn nhìn thấy cảnh thịnh đạt của Giêrusalem, hết mọi ngày trong đời sống của bạn.

Ðáp: Nguyện Chúa chúc phúc cho chúng con hết mọi ngày trong đời sống chúng con!

4) Và để bạn nhìn thấy lũ cháu đàn con. Nguyện xin bình an đến trên đất Israel.

Ðáp: Nguyện Chúa chúc phúc cho chúng con hết mọi ngày trong đời sống chúng con!

Bài Ðọc II: Dt 2, 9-11

“Ðấng thánh hoá và những người được thánh hoá, tất cả đều do một nguồn gốc”.

Trích thư gửi tín hữu Do Thái.

Anh em thân mến, Ðấng trong một thời gian bị hạ xuống kém các Thiên Thần, là Ðức Giêsu, chúng ta thấy Người được triều thiên vinh quang và danh dự vì cuộc tử nạn của Người, để nhờ ơn Thiên Chúa, Người chịu chết thay cho mọi người. Quả vậy, thật là thích hợp việc Chúa là nguyên nhân và cùng đích mọi vật, đã dẫn đưa nhiều con cái đến vinh quang và đã lấy cuộc khổ nạn mà làm cho Ðấng đem lại ơn cứu rỗi được hoàn hảo. Vì chưng, Ðấng thánh hoá và những người được thánh hoá, tất cả đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người không hổ thẹn gọi họ là anh em.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Ga 17,17

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Lời Cha là chân lý; xin hãy thánh hoá chúng trong sự thật”. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 10, 2-16

“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô.

Khi ấy, những người biệt phái đến gần và hỏi thử Chúa Giêsu rằng: “Người ta có được phép ly dị vợ mình chăng?” Người đáp: “Môsê đã truyền cho các ông thế nào?” Họ thưa: “Môsê cho phép làm giấy ly dị và cho ly dị”. Bấy giờ Chúa Giêsu đáp lại: “Chính vì sự cứng lòng của các ông, mà Môsê đã viết ra điều luật đó. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình, và hai người sẽ nên một huyết nhục. Như thế, họ không còn là hai mà là một huyết nhục. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ”.

Về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điểm đó. Và Người bảo các ông: “Ai bỏ vợ mình và lấy vợ khác, thì phạm tội ngoại tình đối với người vợ trước. Và người nữ bỏ chồng và lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình”.

Bấy giờ người ta đưa những trẻ nhỏ đến cùng Chúa Giêsu để Người đặt tay trên chúng, nhưng các môn đệ khiển trách họ. Thấy vậy, Chúa Giêsu bất bình và bảo các ông rằng: “Hãy để các trẻ nhỏ đến cùng Thầy, đừng ngăn cản chúng, vì nước Thiên Chúa là của những người giống như chúng. Thầy bảo thật các con: Ai không đón nhận nước Thiên Chúa như trẻ nhỏ, sẽ không được vào nước đó”. Rồi Người ôm chúng, đặt tay ban phép lành cho chúng.

Ðó là lời Chúa.

BÀI 1: KHÔNG ĐƯỢC PHÂN LY

Suy Niệm

Thời xưa, người phụ nữ chưa được tôn trọng.
Người vợ bị coi như một vật sở hữu của người chồng,
nên người chồng hoàn toàn có quyền ly dị vợ.
Ông Môsê cũng đồng ý để chồng bỏ vợ
nếu thấy nơi vợ có điều chi không vừa ý mình (Đnl 24,1).
Tuy vậy các bậc thầy trong Do-thái giáo ở thế kỷ thứ nhất
lại không nhất trí với nhau về thế nào là không vừa ý.
Thầy Shammai bảo là nếu chị ấy không chung thủy.
Thầy Hillel bảo chỉ cần chị ấy nấu một món ăn quá dở.
Còn thầy Akiba bảo nếu chồng thấy một cô khác xinh hơn.
Nói chung, người ta luôn có đủ lý do để ly dị vợ.

Có lẽ những người Pharisêu biết lập trường của Đức Giêsu
nên mới đặt câu hỏi để đưa Ngài vào bẫy:
“Chồng có được phép rẫy vợ không?” (Mc 10,2)
Đức Giêsu đã không trả lời câu hỏi này, nhưng hỏi ngược lại.
Ngài đòi họ đưa ra câu trả lời dựa trên Luật Môsê:
“Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì?”
Những ông Pharisêu thông thạo lề luật trả lời ngay:
“Ông Môsê đã cho phép viết chứng thư ly dị mà rẫy vợ.”
Câu đáp nhanh của người Pharisêu cho thấy
họ đã biết câu trả lời rồi, họ hỏi cốt để dò xét Ngài thôi.

Đức Giêsu có dám nói điều gì ngược với Môsê không?
Ngài đã có dám nói điều gì khác với sách Đệ nhị luật không?
Đức Giêsu không muốn đối đầu với Luật Môsê.
Ngài chỉ muốn biện minh cho Môsê khi ông cho phép ly dị.
Môsê cho phép vì lòng dạ cứng cỏi của dân Israen thời xưa,
và vì lòng chai dạ đá của các ông Pharisêu thời của Ngài.
Cho phép ly dị không phải vì đó là điều tốt,
nhưng là một nhượng bộ khi con người chưa đủ tầm.
Đức Giêsu đưa các ông Pharisêu đi xa hơn sách Đệ nhị luật.
Ngài đưa các ông đi vào sách Sáng thế,
để thấy lúc khởi đầu của công trình tạo dựng (Mc 10,6).
“Thiên Chúa làm ra con người có nam có nữ” (St 1,27).
“Người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình;
cả hai sẽ thành một xương một thịt” (St 2,24).
Những câu trích trên của Đức Giêsu không có gì là mới mẻ.
Điều mới mẻ nằm ở hai kết luận rút ra từ đó:
“Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một thịt.
Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp,
loài người không được phân ly” (Mc 10, 8-9).

Hôn nhân thường được coi là chuyện riêng của đôi nam nữ.
Yêu nhau thì gắn bó với nhau nên vợ nên chồng.
Nhưng Đức Giêsu cho thấy đây không hẳn là chuyện riêng,
vì Thiên Chúa có mặt ở đây,
trong chỗ riêng tư nhất của tình yêu hai người.
Chính Thiên Chúa đã xe duyên, đã phối hợp đôi bạn.
Bởi đó hôn nhân cũng là chuyện của Thiên Chúa.
Vợ chồng không được ly dị vì điều đó phạm đến Ngài.
Hôn nhân trong Do-thái giáo không phải là một bí tích,
nhưng Đức Giêsu không hề coi đó là chuyện tự nhiên.
Trái lại, Ngài coi hôn nhân là thánh thiêng, bền vững.
Khi về nhà, Ngài mới nói với các môn đệ điều chưa nói:
Ai bỏ vợ, hay bỏ chồng mà đi lấy người khác
là phạm tội ngoại tình, xúc phạm người phối ngẫu trước.

Hiện nay tỷ lệ ly dị rất cao ở các nước Âu Mỹ.
Ở Việt Nam, gần đây tỷ lệ này cũng tăng lên nhiều.
Cả người Công giáo cũng đưa nhau ra tòa xin ly dị.
Ít người chịu nghĩ đến lời mình đã hứa trước mặt cộng đoàn:
Yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời,
dù giàu hay nghèo, dù khỏe mạnh hay ốm đau,
dù vấp ngã hay thủy chung, dù an bình hay sóng gió.
Cuộc hôn nhân nào cũng có lúc gặp sóng gió.
Tình yêu vợ chồng được lớn lên nhờ sóng gió,
nhờ hai người hiệp lực chống lại cuồng phong.
Đừng vội quyết định chia tay để giải quyết nhanh gọn.
Hãy tiếp tục đi với nhau, đi bên nhau,
dù mọi sự có vẻ hoàn toàn đổ vỡ, không sao hàn gắn,
dù những tổn thương gây cho nhau không dễ quên.
Xin Lời Đức Giêsu hôm nay chạm đến khó khăn của ta,
mời ta thắt chặt những mối dây lỏng lẻo,
làm ấm lại những tương quan đã nguội lạnh từ lâu.
Và xin Ngài giúp ta điều chỉnh lại cánh buồm của mình
khi thuyền đời chúng ta gặp gió ngược.

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
Sống ở đời chẳng ai thích sóng gió,
nhưng sóng gió lúc nào cũng có trong đời người.
Các môn đệ đầu tiên đã nhiều lần gặp sóng gió ở hồ Galilê.
Sóng gió đến khi Chúa đang ngủ vùi trên thuyền,
khiến môn đệ phải vội vàng đánh thức.
Sóng gió đến khi Chúa không ở trong thuyền,
khiến môn đệ phải chèo chống vất vả.

Chúa không tránh cho cuộc đời chúng con khỏi mọi sóng gió,
vì Chúa biết sóng gió làm chúng con trưởng thành,
tập vượt qua nỗi sợ hãi bằng lòng tin,
tập vượt qua nỗi lo âu bằng hy vọng.
Chúa để chúng con chiến đấu suốt đêm với gió ngược,
nhưng lại đến với chúng con khi trời gần sáng.

Xin cho chúng con yêu quý sự bình an,
nhưng lại không ngỡ ngàng trước sóng gió.
Giữa cơn sóng gió, xin cho chúng con tin rằng
Chúa vẫn hiện diện gần bên chúng con,
và đang đưa con thuyền Giáo Hội về đến bến.

 

BÀI 2: CHỈ LÀ MỘT

Suy Niệm

“Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp,
loài người không được phép phân ly”
Lời của Đức Giêsu đã vang vọng qua hai mươi thế kỷ
và vẫn thường được chọn để in trên thiệp cưới.
Phải chăng người ta ngầm nhắc nhau rằng
ly dị là từ không nên có trong từ điển của các đôi vợ chồng ?
Tiếc thay số vụ ly hôn nơi các kitô hữu vẫn tăng.
Sống với nhau suốt một đời trở thành ước mơ khó đạt.

Trong xã hội Do thái giáo thời Đức Giêsu,
người phụ nữ không được bình đẳng với nam giới.
Người vợ là một thứ tài sản của người chồng,
nên chỉ người chồng mới có quyền ly dị vợ,
có khi ly dị vì một lý do cỏn con.
Trước câu hỏi: “Chồng có được rẫy vợ không ?”
Đức Giêsu kiên quyết nói không.
Ngài bênh vực các bà vợ bị áp chế.
Họ không phải là một món hàng bỏ đi khi không cần.
Lập trường của ngài đi ngược với nền văn hóa và tôn giáo
của thời đó cũng như thời nay.
Điều này khiến các môn đệ của Đức Giêsu có lần bị sốc.
Họ nói: “Nếu vậy thì thà đừng lấy vợ thì hơn” (Mt 19, 10).
Hóa ra các ông vẫn cho mình có quyền bỏ vợ nếu muốn.

Khi người Pharisêu trích sách Đệ Nhị Luật
để biện minh cho việc ly dị đúng theo luật Môsê,
Đức Giêsu lại trích sách Sáng Thế,
để nhấn mạnh đến sự hiệp nhất vĩnh viễn của vợ chồng.
Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.
Điều này nằm trong ý định nguyên thủy của Thiên Chúa.
Việc Môsê cho phép ly dị chỉ là một nhượng bộ tạm thời.
Đức Giêsu đến để hoàn chỉnh luật Môsê
và khai mở trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa.

“Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp…”
Vậy trong Lễ Cưới, không phải chỉ có hai người yêu nhau,
lấy nhau và cam kết suốt đời sống cho nhau.
Hôn nhân không chỉ là bản hợp đồng giữa hai bên.
Còn cần một bên thứ ba là Thiên Chúa,
Đấng phối hợp và làm cho hai bên kia nên vợ nên chồng.
Thiên Chúa có mặt trong mỗi Lễ Cưới,
và tiếp tục bảo vệ tình yêu, cả khi hai người muốn bỏ cuộc.

Chung thủy chưa bao giờ là chuyện dễ dàng.
Khi thịnh vượng, lúc gian nan; khi bệnh tật, lúc mạnh khỏe.
Còn nhiều tình huống khác đe dọa hôn nhân:
khi buồn chán và thất vọng về nhau, khi yếu đuối vấp ngã,
khi đổ vỡ quá lớn và vết thương quá nặng,
khi đời sống vợ chồng trở thành như hỏa ngục…
Những khi ấy, yêu thương và kính trọng nhau thật khó.
Con người bị cám dỗ tìm giải pháp chia tay.

Chúng ta cầu cho những ai đã và sẽ kết hôn.
Xin cho họ bớt một chút ích kỷ, thêm một chút khiêm tốn,
bớt một chút tự ái, thêm một chút phục vụ,
bớt một chút tự do đam mê, thêm một chút hy sinh tha thứ…
Nhờ đó họ cộng tác với Thiên Chúa
trong việc bảo vệ và tưới bón tình yêu.


Gợi Ý Chia Sẻ

1. Đâu là những hậu quả của việc ly dị ?
2. Việc ly dị ảnh hưởng thế nào trên xã hội và Giáo hội ?
3. Theo ý bạn, đâu là những nguyên nhân đưa đến việc vợ chồng chia tay nhau ?

Cầu Nguyện

Lạy Cha nhân ái, từ trời cao,
xin Cha nhìn xuống
những gia đình sống trên mặt đất
trong những khu ổ chuột tồi tàn
hay biệt thự sang trọng.
 Xin thương nhìn đến
những gia đình thiếu vắng tình yêu
hay thiếu những điều kiện vật chất tối thiểu,
những gia đình buồn bã vì vắng tiếng cười trẻ thơ
hay vất vả âu lo vì đàn con nheo nhóc.
Xin Cha nâng đỡ những gia đình đã thành hỏa ngục
vì chứa đầy dối trá, ích kỷ, dửng dưng.

Lạy Cha, xin nhìn đến những trẻ em trên thế giới,
những trẻ em cần sự chăm sóc và tình thương
những trẻ em bị lạm dụng, bóc lột, buôn bán,
những trẻ em lạc lõng bơ vơ, không được đến trường,
những trẻ em bị đánh cắp tuổi thơ và trở nên hư hỏng.
 Xin Cha thương bảo vệ gìn giữ
từng gia đình là hình ảnh của thánh Gia Thất,
từng trẻ em là hình ảnh của Con Cha thuở ấu thơ.

Xin Cha sai Thánh Thần Tình Yêu
đem đến hạnh phúc cho mỗi gia đình ;
nhưng xin cũng nhắc cho chúng con nhớ
hạnh phúc luôn ở trong tầm tay
của từng người chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nguồn: hdgmvietnam.com

 

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/Chua-Nhat-XXVII-Thuong-Nien-B-1.jpg 1404 2500 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2024-10-10 07:29:532024-10-30 07:36:25Chúa nhật 27 thường niên B – Không được phân ly

Đứng dậy đi theo (21.09.2024 – Lễ Kính Thánh Matthêô, Tông đồ)

21 Tháng 9, 2024/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày/by Tấm Bánh
Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Matthêu. Người phán bảo ông: “Hãy theo Ta”. Ông ấy đứng dậy đi theo Người. Và xảy ra khi Người ngồi dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người.

Bài Ðọc I: Ep 4, 1–7. 11–13

“Chu toàn chức vụ, xây dựng thân thể Chúa Kitô”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, tôi là tù nhân trong Chúa, tôi khuyên anh em hãy ăn ở xứng đáng với ơn kêu gọi anh em đã lãnh nhận. Anh em hãy hết lòng khiêm nhượng, hiền hậu, nhẫn nại, chịu đựng nhau trong đức ái; hãy lo bảo vệ sự hợp nhất tinh thần, lấy bình an hoà thuận làm dây ràng buộc: Chỉ có một thân thể và một tinh thần, cũng như anh em đã được kêu gọi đến cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa là Cha hết mọi người, Ðấng vượt trên hết mọi người, hoạt động nơi mọi người, và ở trong mọi người.

Anh em thân mến, mỗi người trong chúng ta đã được ban ơn tuỳ theo lượng Ðức Kitô ban cho. Và chính Người đã ban cho kẻ làm Tông đồ, người làm Tiên tri, còn kẻ khác thì rao giảng Tin Mừng, kẻ khác nữa làm chủ chăn và thầy dạy, để tổ chức các thánh nhân nên hoàn bị hầu chu toàn chức vụ, xây dựng thân thể Ðức Kitô, cho đến khi mọi người chúng ta hợp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, trở nên người trưởng thành, đạt đến tầm vóc của Ðức Kitô viên mãn.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 18, 2–3. 4–5

Ðáp: Tiếng chúng đã vang cùng trái đất.

Xướng: 1) Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, thanh không kể ra sự nghiệp của Người. Ngày này nhắc nhủ cho ngày khác, đêm này truyền tụng cho đêm kia.

Ðáp: Tiếng chúng đã vang cùng trái đất.

2) Ðây không phải lời cũng không phải tiếng, mà âm thanh chúng không thể lọt tai. Nhưng tiếng chúng đã vang cùng trái đất, và lời chúng truyền ra khắp cõi địa cầu.

Ðáp: Tiếng chúng đã vang cùng trái đất.

 

Alleluia:

Alleluia, alleluia! – Chúng con ca ngợi Chúa là Thiên Chúa; chúng con tuyên xưng Chúa là chúa tể. Lạy Chúa, ca đoàn vinh quang các Tông đồ ca ngợi Chúa. – Alleluia.

Phúc Âm: Mt 9, 9–13

“Hãy theo Ta”. – Và ông ấy đứng dậy đi theo Người”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Matthêu. Người phán bảo ông: “Hãy theo Ta”. Ông ấy đứng dậy đi theo Người. Và xảy ra khi Người ngồi dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Những người biệt phái thấy vậy, liền nói với các môn đệ Người rằng: “Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như vậy?” Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo rằng: “Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu! Các ông hãy đi học xem lời này có ý nghĩa gì: Ta muốn lòng nhân từ, chớ không phải hy lễ. Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi”.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm:

Thầy Giêsu gọi bốn môn đệ đầu tiên khi họ đang làm việc.

Người thì đang quăng lưới ngoài khơi,

kẻ thì đang vá lưới trong thuyền (Mt 4, 18-22).

Khi Thầy gọi Matthêô, anh cũng đang làm việc ở trạm thu thuế.

Anh đang ngồi, vững vàng trong nghề nghiệp của mình,

dù nghề của anh thường bị coi là nghề rất xấu.

Thầy Giêsu như tình cờ đi ngang qua bàn làm việc của anh.

Ngài chỉ nói một câu rất ngắn: “Anh hãy theo tôi!”

Matthêô không đáp lại, nhưng anh trả lời bằng hành động.

Từ vị thế đang ngồi, anh bỏ dở công việc để đứng lên và theo Thầy.

Từ vị thế vững vàng, anh bắt đầu bước vào cuộc phiêu lưu bấp bênh.

Từ vị thế của tội nhân, anh trở thành người môn đệ thân thiết.

Matthêô nằm trong danh sách nhóm Mười Hai (Mt 10, 3).

Thầy Giêsu không sợ mất tiếng khi nhận anh vào nhóm.

Nhóm của Thầy không chỉ gồm những người thánh thiện,

nhưng có cả những tội nhân giàu lòng hoán cải.

Matthêô có đóng góp gì cho nhóm Mười Hai không?

Nghề thu thuế với giấy bút có giúp gì cho các ngư phủ ít học không?

Hôm nay chúng ta mừng lễ Tông đồ Matthêô,

người thu thuế trở nên Tác giả sách Tin Mừng.

Matthêô làm nghề bị đồng bào của ông khinh miệt,

vì nghề này dễ dẫn người ta đến chỗ lạm thu, bỏ tiền vào túi riêng.

Nghề này còn là một sỉ nhục vì cộng tác với ngoại bang bóc lột dân,

đụng chạm đến đồng tiền ô uế và tiếp xúc với dân ngoại.

Khi trở nên môn đệ của Thầy, Matthêô đã trở nên người phục vụ đồng bào.

Ông dùng khả năng của mình mà viết sách Tin Mừng.

Đây là Tin Mừng lớn mà ông loan báo: Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia.

Không phải chờ gì nữa, Đấng Mêsia đã đến rồi!

Ngài làm trọn những lời đã được loan báo trong Cựu Ước.

Matthêô đã tìm ra ngôn ngữ để nói với Dân Chúa, sao cho họ hiểu được.

Ông đã trình bày dung mạo Đức Giêsu cho người cùng thời với ông.

Chúng ta cũng phải có khả năng giới thiệu Đức Giêsu cho người thời nay,

nghĩa là biết, hiểu và nói được ngôn ngữ của thế giới,

để thế giới nghe và hiểu được.

Chúng ta vẫn phải tiếp tục viết các sách Tin Mừng cho thời đại hôm nay,

phù hợp với não trạng và tâm thức của họ, với nền văn hóa đương đại.

Đâu là khuôn mặt Đấng Cứu độ mà con người hôm nay ngóng chờ?

Con người thời nay khỏe mạnh về nhiều mặt,

nhưng vẫn là người đau ốm cần đến thầy thuốc (c. 12).

Họ mong mình được giải phóng khỏi điều gì?

Đức Giêsu Kitô có thể đáp ứng được những khao khát đó không?

Lời rao giảng và cuộc sống của chúng ta phải cho thấy

Đức Giêsu có thể chữa lành và đem lại một thế giới hạnh phúc.

Ước gì chúng ta có lòng nhân và sự bao dung như Đức Giêsu,

dám đồng bàn với con người hôm nay để dẫn họ đến bàn tiệc thiên quốc.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,

xin sai chúng con lên đường

nhẹ nhàng và thanh thoát,

không chút cậy dựa vào khả năng bản thân

hay vào những phương tiện trần thế.

Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm :

rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,

chữa lành những người ốm đau.

Xin cho chúng con biết chia sẻ Tin Mừng

với niềm vui của người tìm được viên ngọc quý,

biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân.

Xin ban cho chúng con khả năng

đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.

Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ

của bao người đau khổ thể xác tinh thần.

Lạy Chúa Giêsu,

thế giới thật bao la

mà vòng tay chúng con quá nhỏ.

Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau

mà tin tưởng lên đường,

nhẹ nhàng và thanh thoát. Amen.

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/09/Mt-9-9-13.1.jpg 314 560 Tấm Bánh https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Tấm Bánh2024-09-21 15:12:512024-09-21 15:12:51Đứng dậy đi theo (21.09.2024 – Lễ Kính Thánh Matthêô, Tông đồ)
Page 4 of 41234

Tin mới đăng

  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 3 mùa Vọng năm A (Mt 11,2-11)9 Tháng 12, 2025 - 3:43 chiều
  • Logo năm Mục vụ 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế…9 Tháng 12, 2025 - 11:08 sáng
  • Đoàn TNTT Tôma Thiện tham dự nghi thức chào cờ đầu tháng với chủ đề “Cầu Nguyện”7 Tháng 12, 2025 - 11:13 sáng
  • Lịch Công Giáo và Mục vụ Giáo xứ Hoài Lai từ 06/12/2025 đến 14/12/20256 Tháng 12, 2025 - 11:10 sáng
  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 2 mùa Vọng năm A (Mt 3,1-12)3 Tháng 12, 2025 - 10:21 chiều

Follow us on Facebook

Vừa cập nhật

  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 3 mùa Vọng năm A (Mt 11,2-11)9 Tháng 12, 2025 - 3:43 chiều
  • Logo năm Mục vụ 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế…9 Tháng 12, 2025 - 11:08 sáng
  • Đoàn TNTT Tôma Thiện tham dự nghi thức chào cờ đầu tháng với chủ đề “Cầu Nguyện”7 Tháng 12, 2025 - 11:13 sáng
  • Lịch Công Giáo và Mục vụ Giáo xứ Hoài Lai từ 06/12/2025 đến 14/12/20256 Tháng 12, 2025 - 11:10 sáng
  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 2 mùa Vọng năm A (Mt 3,1-12)3 Tháng 12, 2025 - 10:21 chiều

Tin Giáo hội

  • Logo năm Mục vụ 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế…
  • Thư mục vụ năm 2026 +Gm. Phêrô Kiều Công Tùng
  • Đại lễ kính các thánh Tử đạo Việt Nam tại đền thánh Phúc Nhạc 24.11.2025
  • Ngày gặp mặt gia đình chủng viện Phát Diệm năm 2025
  • Thông báo: V/v Bổ nhiệm Ban Tư vấn và các Hạt trưởng nhiệm kỳ mới

Lịch làm việc Văn phòng:

+ Thứ 3 – Thứ 7: 7g30 – 11g30; 14g30 – 18g30

+ Chúa nhật: 6g30 – 10g30; 16g30 – 20g30

+ Thứ hai nghỉ cả ngày

Facebook

Thông tin liên hệ

+ Địa chỉ: Nhà thờ Giáo xứ Hoài Lai – xóm 9A, Lai Thành, Kim Sơn, Ninh Bình.

+ Điện thoại: (+84) 916.612.880

Ban truyền thông Giáo xứ Hoài Lai - powered by Enfold WordPress Theme
  • Facebook
  • Youtube
  • Tin Tức
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Scroll to top