Loading
  • Facebook
  • Youtube
Giáo xứ Hoài Lai - Giáo phận Phát Diệm
  • TRANG CHỦ
  • GIỚI THIỆU
    • Lược sử giáo xứ
    • Linh mục phụ trách
    • Hội đồng mục vụ
  • TIN TỨC
    • Giáo hội Hoàn Vũ
    • Giáo hội Việt Nam
    • Giáo phận Phát Diệm
    • Giáo xứ Hoài Lai
  • SỐNG LỜI CHÚA
  • MỤC VỤ
    • Giới trẻ
    • Thiếu Nhi Thánh Thể
  • LỊCH PHỤNG VỤ
  • LIÊN HỆ
  • Search
  • Menu Menu

Chúa nhật 34 Thường niên: Lễ Chúa Kitô vua vũ trụ

23 Tháng mười một, 2025/0 Comments/in Bài giảng, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
WHĐ (22/11/2025) – Lễ này được cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, qua đó nhấn mạnh rằng Đức Giêsu Kitô, Vua, là đích điểm của cuộc lữ hành trần thế của chúng ta.

NHỮNG NGÀY LỄ PHỤNG VỤ

Chúa nhật 34 Thường niên

LỄ CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ

Năm 325, Công đồng chung đầu tiên được triệu tập tại thành phố Nicea thuộc Tiểu Á. Trong Công đồng này, tín điều về thần tính của Đức Kitô được xác định để chống lại lạc giáo Ariô: “Đức Kitô là Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”. 1600 năm sau, vào năm 1925, Đức Giáo hoàng Piô XI công bố rằng cách hữu hiệu nhất để chiến thắng bất công là nhìn nhận vương quyền của Đức Kitô. “Bởi vì người ta được huấn giáo về các chân lý đức tin và được dẫn dắt để cảm nếm niềm vui nội tâm của tôn giáo một cách hiệu quả hơn nhờ việc cử hành hằng năm các mầu nhiệm thánh, hơn là nhờ những tuyên bố chính thức về giáo huấn của Giáo hội. Những tuyên bố ấy thường chỉ đến được với một số ít người và những người có học thức trong hàng ngũ tín hữu; còn các lễ thì đến được với tất cả; điều trước chỉ nói một lần, điều sau thì nói mỗi năm – và thực ra, là mãi mãi. Giáo huấn của Giáo hội chủ yếu tác động đến trí khôn; còn các lễ tác động đến cả trí khôn lẫn con tim, và có một hiệu quả cứu độ trên toàn thể bản tính con người” (Thông điệp Quas primas, 11 tháng 12 năm 1925).

Ngày ban đầu, lễ này được cử hành vào Chúa nhật trước lễ Các thánh (Chúa nhật cuối cùng của tháng Mười). Nhưng với cuộc cải tổ phụng vụ năm 1969, lễ này được chuyển sang Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, qua đó nhấn mạnh rằng Đức Giêsu Kitô, Vua, là đích điểm của cuộc lữ hành trần thế của chúng ta. Có những bản văn Kinh thánh riêng cho cả ba năm của chu kỳ Phụng vụ giúp chúng ta hiểu trọn vẹn về con người của Đức Giêsu.

NĂM A

NĂM B

NĂM C

NĂM A

“Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: ‘Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.’ Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?’ Đức Vua sẽ đáp lại rằng: ‘Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.’ Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: ‘Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.’ Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?’ Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: ‘Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.’ Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.” (Mt 25,31-46)

Giai đoạn sau cùng

Hôm nay, chúng ta cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, được gọi là lễ trọng Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ. Chúng ta đã bắt đầu tiến về đích điểm này từ Chúa nhật I mùa Vọng. Hôm nay, chúng ta đã đạt được. Xét rằng, năm Phụng vụ diễn tả đời sống của chính chúng ta ở dạng thu nhỏ, kinh nghiệm này nhắc chúng ta, và hơn nữa dạy chúng ta rằng chúng ta đang ở trên hành trình tiến tới cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu, Tân lang, khi Người đến như là Vua và là Chúa của sự sống và của lịch sử. Cuộc quang lâm mà chúng ta đang chờ đợi bây giờ là cuộc quang lâm thứ hai của Người. Cuộc quang lâm thứ nhất của Người là trong sự khiêm hạ của một Hài Nhi nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,7); cuộc quang lâm thứ hai sẽ xảy đến khi Người trở lại trong vinh quang vào thời sau hết, điều mà hôm nay chúng ta cử hành trong phụng vụ.

Nhưng cũng có một cuộc quang lâm trung gian – chúng ta đang sống điều đó hôm nay – trong đó Chúa Giêsu hiện diện nơi chúng ta nhờ Ân sủng chúng ta lãnh nhận trong các Bí tích và nơi khuôn mặt của mỗi “người bé mọn” mà Tin mừng nói đến (“Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3)). Chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa Giêsu nơi khuôn mặt của từng người anh chị em. Trên hành trình này, phụng vụ mang đến cho chúng ta một trường học của đời sống để dạy chúng ta nhận ra Chúa hiện diện trong đời sống hằng ngày và chuẩn bị cho chúng ta đón nhận cuộc quang lâm sau cùng của Người.

Tọa độ của đời sống

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến…” “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”. Chúc lành và lời nguyền rủa không phải là những quyết định, những “phán xét” của một vị Vua, Đấng chỉ xét đến những việc con người đã làm, nhưng là xét xem mỗi người đã chăm sóc người khác đến mức nào (x. Ga 4; Lc 16,19-31). Ở đầu Tin mừng (1,23), Thánh sử Mátthêu viết: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là ‘Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’”. Ở cuối Tin mừng, ngài viết: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Chính trong khung cảnh đó mà chúng ta phải đọc “Phán xét chung” mà phụng vụ hôm nay mời chúng ta chiêm niệm. Đức Giêsu, Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, thật sự “ở cùng chúng ta” cho đến tận thế. Người ở với chúng ta. Nhưng ở đâu? Làm sao chúng ta nhận ra Người đang hiện diện và hoạt động trong đời sống mình? Để gặp được Người, cần phải bước theo dấu chân của Người, dưỡng nuôi những tâm tình của Người – vốn nhiều khi không phải là tâm tình của chúng ta. Làm sao chúng ta không nhớ tới lúc Chúa Giêsu tâm sự với các môn đệ rằng cái chết trên thập giá đang chờ đợi Người, và Phêrô đã trách Người. Khi ấy, Chúa Giêsu kéo Phêrô ra một chỗ và nói: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23; x. Is 55,8). Chúng ta phải luôn nhớ rằng chúng ta ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14). Chính vì rất dễ bị lạc lối khỏi con đường ngay chính mà điều quan trọng là phải đưa mắt hướng về Đức Giêsu để không đánh mất Người (x. Dt 12,2). Người đang ở đây. Do đó, đời sống chúng ta không bị dẫn dắt bở sự ngẫu nhiên, nhưng được hướng dẫn bởi một Sự Hiện Diện là Sự Sống và chỉ cho chúng ta Con Đường.

Một lễ cho thấy con đường phải đi

Năm Phụng vụ là biểu tượng cho hành trình đời sống của chúng ta. Nó có khởi đầu và kết thúc trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, là Vua và là Chúa, trong Nước Trời mà chúng ta sẽ bước vào qua “chị chết” mở cửa hẹp cho chúng ta (Thánh Phanxicô). Vào đầu năm Phụng vụ (Chúa nhật I mùa Vọng), chúng ta đã được cho thấy trước đích điểm mà chúng ta tiến tới. Giống như chúng ta đã được trao cho các câu trả lời trước một năm cho những câu hỏi sẽ được hỏi trong kỳ thi! Nếu đó là kỳ thi, thì như thế là gian lận. Nhưng trong phụng vụ, đó lại là món quà của Chúa Giêsu, vị Thầy, vì điều đó chỉ cho chúng ta biết phải đi con đường nào (Chúa Giêsu là Đường), phải nuôi dưỡng những ý nghĩ nào (Chúa Giêsu là Sự Thật), và phải để cho niềm hy vọng nào thúc đẩy chúng ta (Chúa Giêsu là Sự Sống; x. Ga 14,6).

Tất cả là về tình yêu

Điều nổi bật trong các bản văn chúng ta nghe hôm nay là bài kiểm tra sau cùng lại xoay quanh tình yêu, quanh những điều cụ thể trong đời sống, bắt đầu từ những hành động đơn sơ và bình thường nhất: “Ta đói… Ta khát…” chứ không phải những hành động anh hùng, không phải những việc xa rời đời sống hằng ngày, cũng không phải những hành động ngoạn mục. Vẻ đẹp của Tin mừng hôm nay là ở chỗ Đức Giêsu không chỉ là Thiên Chúa ở cùng chúng ta cho đến tận thế, nhưng Người còn là Thiên Chúa ở trong chúng ta, bắt đầu từ những người bé mọn nhất: Người đi đến mức đồng nhất chính mình với những người túng thiếu, với từng “người bé mọn” trong Tin mừng, với những người bị bách hại (chẳng hạn: “Saolô, Saolô, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Cv 9,4). Như thế, mọi hành động yêu thương đều được thực hiện “với Đức Giêsu”, vì chúng ta ở trong sự hiện diện của Người; “như Đức Giêsu”, vì chúng ta đã học theo Người trong các Tin mừng; và thậm chí “cho Đức Giêsu”, bởi vì mỗi khi một hành động yêu thương được thực hiện, thì đó là hành động được làm “cho chính Người”.

Tình yêu trong đời sống hằng ngày

Điều đáng ngạc nhiên khi nhìn vào các hành động được ghi lại về Chúa Giêsu là không có một hành động tôn giáo hay thánh thiêng nào, theo đúng nghĩa đen của từ ngữ. Những gì chúng ta thấy là những hành động điển hình của người “giáo dân”: những gì Người làm khi đi trên đường, trong nhà người ta, bất cứ nơi nào Người có mặt, bất cứ nơi nào có nhu cầu. Thực ra, không còn gì là phàm tục nữa, cả bên trong lẫn bên ngoài đền thờ, vì tất cả thực tại đều được bao phủ bởi đền thờ của Thiên Chúa: không có gì là phàm tục và mọi sự đều là ‘thánh’, vì mọi sự đều hướng đến Đức Giêsu” (L. Giussani). Đây chính là kiểu phụng tự mà Thiên Chúa mong muốn. Điều này cũng được thấy trong một đoạn khác của Tin mừng theo Thánh Mátthêu: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Cuối cùng, nếu phụng tự mà chúng ta thực hiện trên bàn thờ không được dẫn dắt và đi kèm với phụng tự yêu thương anh chị em, thì sự thờ phượng của chúng ta sẽ chẳng có giá trị bao nhiêu.

NĂM B

Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giêsu và nói với Người: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?” Đức Giêsu đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” Ông Philatô trả lời: “Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?” Đức Giêsu trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” Ông Philatô liền hỏi: “Vậy ông là vua sao?” Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” (Ga 18,33b-37)

Giai đoạn sau cùng

Hôm nay, chúng ta cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, được gọi là lễ trọng Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ. Chúng ta đã bắt đầu tiến về đích điểm này từ Chúa nhật I mùa Vọng. Hôm nay, chúng ta đã đạt được. Xét rằng, năm Phụng vụ diễn tả đời sống của chính chúng ta ở dạng thu nhỏ, kinh nghiệm này nhắc chúng ta, và hơn nữa dạy chúng ta rằng chúng ta đang ở trên hành trình tiến tới cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu, Tân lang, khi Người đến như là Vua và là Chúa của sự sống và của lịch sử. Cuộc quang lâm mà chúng ta đang chờ đợi bây giờ là cuộc quang lâm thứ hai của Người. Cuộc quang lâm thứ nhất của Người là trong sự khiêm hạ của một Hài Nhi nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,7); cuộc quang lâm thứ hai sẽ xảy đến khi Người trở lại trong vinh quang vào thời sau hết, điều mà hôm nay chúng ta cử hành trong phụng vụ.

Nhưng cũng có một cuộc quang lâm trung gian – chúng ta đang sống điều đó hôm nay – trong đó Chúa Giêsu hiện diện nơi chúng ta nhờ Ân sủng chúng ta lãnh nhận trong các Bí tích và nơi khuôn mặt của mỗi “người bé mọn” mà Tin mừng nói đến (“Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3)). Chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa Giêsu nơi khuôn mặt của từng người anh chị em. Trên hành trình này, phụng vụ mang đến cho chúng ta một trường học của đời sống để dạy chúng ta nhận ra Chúa hiện diện trong đời sống hằng ngày và chuẩn bị cho chúng ta đón nhận cuộc quang lâm sau cùng của Người.

Một lễ cho thấy con đường phải đi

Năm Phụng vụ là biểu tượng cho hành trình đời sống của chúng ta. Nó có khởi đầu và kết thúc trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, là Vua và là Chúa, trong Nước Trời mà chúng ta sẽ bước vào qua “chị chết” mở cửa hẹp cho chúng ta (Thánh Phanxicô). Vào đầu năm Phụng vụ (Chúa nhật I mùa Vọng), chúng ta đã được cho thấy trước đích điểm mà chúng ta tiến tới. Giống như chúng ta đã được trao cho các câu trả lời trước một năm cho những câu hỏi sẽ được hỏi trong kỳ thi! Nếu đó là kỳ thi, thì như thế là gian lận. Nhưng trong phụng vụ, đó lại là món quà của Chúa Giêsu, vị Thầy, vì điều đó chỉ cho chúng ta biết phải đi con đường nào (Chúa Giêsu là Đường), phải nuôi dưỡng những ý nghĩ nào (Chúa Giêsu là Sự Thật), và phải để cho niềm hy vọng nào thúc đẩy chúng ta (Chúa Giêsu là Sự Sống; x. Ga 14,6).

Niềm vui của một giấc mơ

Trong Bài đọc I từ sách Ngôn sứ Đanien (7,13-14), chúng ta đọc về thị kiến về Con Người, Người sẽ sau cùng thay thế tất cả những kẻ trong lịch sử đã bắt người khác phục vụ mình thay vì tự mình phục vụ họ. Vì vậy, trong thị kiến này rõ ràng rằng sẽ có một kết thúc cho những ai đã lợi dụng người khác và trục lợi từ họ. Sẽ đến ngày một “Vua” công chính và nhân từ sẽ cầm quyền lịch sử trong tay.

Vị Vua được chờ đợi

Trong khung cảnh đầy hy vọng này, chúng ta có thể đọc đoạn Tin mừng mà phụng vụ hôm nay gợi ý – cuộc đối thoại giữa Philatô và Chúa Giêsu. Chúa Giêsu được trình bày như một Vua, nhưng triều đại của Người không thuộc về trần gian. Thực ra, Chúa Giêsu không tìm cách tự bảo vệ mình, vì cuộc sống của Người vượt lên trên sứ mạng Người lãnh nhận từ Chúa Cha. Đoạn văn nói một cách giản dị: Người là Vua và đã đến thế gian để tỏ bày vương quyền của Người, vốn được thể hiện qua việc làm chứng cho Chúa Cha, hiến dâng mạng sống trong phục vụ Chúa Cha, là Sự Thật của cuộc sống.

Vương quyền và sự thật

Chủ đề về “sự thật”, vốn quan trọng đối với Philatô, nhưng lại không quan trọng đến mức khiến ông ngăn chặn việc hành hình Chúa Giêsu, đòi hỏi một sự trung thành: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37). Đây là điểm mà Philatô dừng lại, không thể đón nhận sự thật, vì ông để mình bị thao túng bởi ý muốn của đám đông, và sau này sẽ phải trả giá rất cao về chính trị. Lựa chọn của Philatô cho thấy con người thật của ông và những gì thực sự đang hướng dẫn ông. Ngược lại, Chúa Giêsu tỏ bày đến cùng Đấng mà Người thuộc về và Đấng mà Người phục vụ. Điều này trao cho Người quyền tuyên bố rằng Người “là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống” (Ga 14,6).

Sự thật và dối trá

Lễ trọng hôm nay không chỉ là dịp để khám phá con người của Philatô, mà còn mở ra cơ hội cho mỗi chúng ta hiểu mình thực sự đang phục vụ ai. Vào cuối năm Phụng vụ này, điều quan trọng là nhận ra trái tim chúng ta hướng về ai hoặc về điều gì, vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó (x. Lc 12,34). Đây là một câu hỏi giúp chúng ta sắp xếp đời sống và tình cảm, để không đi theo nơi trái tim muốn dẫn dắt, nhưng để chúng ta đưa trái tim đến nơi chúng ta thực sự muốn đi. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi chúng ta chấp nhận Chúa Giêsu là Vua của mình, Đấng chỉ phục vụ sự thật với chính sự thật.

NĂM C

Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi!” Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Đây là vua người Do-thái.” Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Nhưng tên kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23,35-43)

Giai đoạn sau cùng

Hôm nay, chúng ta cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, được gọi là lễ trọng Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ. Chúng ta đã bắt đầu tiến về đích điểm này từ Chúa nhật I mùa Vọng. Hôm nay, chúng ta đã đạt được. Xét rằng, năm Phụng vụ diễn tả đời sống của chính chúng ta ở dạng thu nhỏ, kinh nghiệm này nhắc chúng ta, và hơn nữa dạy chúng ta rằng chúng ta đang ở trên hành trình tiến tới cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu, Tân lang, khi Người đến như là Vua và là Chúa của sự sống và của lịch sử. Cuộc quang lâm mà chúng ta đang chờ đợi bây giờ là cuộc quang lâm thứ hai của Người. Cuộc quang lâm thứ nhất của Người là trong sự khiêm hạ của một Hài Nhi nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,7); cuộc quang lâm thứ hai sẽ xảy đến khi Người trở lại trong vinh quang vào thời sau hết, điều mà hôm nay chúng ta cử hành trong phụng vụ.

Nhưng cũng có một cuộc quang lâm trung gian – chúng ta đang sống điều đó hôm nay – trong đó Chúa Giêsu hiện diện nơi chúng ta nhờ Ân sủng chúng ta lãnh nhận trong các Bí tích và nơi khuôn mặt của mỗi “người bé mọn” mà Tin mừng nói đến (“Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3)). Chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa Giêsu nơi khuôn mặt của từng người anh chị em. Trên hành trình này, phụng vụ mang đến cho chúng ta một trường học của đời sống để dạy chúng ta nhận ra Chúa hiện diện trong đời sống hằng ngày và chuẩn bị cho chúng ta đón nhận cuộc quang lâm sau cùng của Người.

Một lễ cho thấy con đường phải đi

Năm Phụng vụ là biểu tượng cho hành trình đời sống của chúng ta. Nó có khởi đầu và kết thúc trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, là Vua và là Chúa, trong Nước Trời mà chúng ta sẽ bước vào qua “chị chết” mở cửa hẹp cho chúng ta (Thánh Phanxicô). Vào đầu năm Phụng vụ (Chúa nhật I mùa Vọng), chúng ta đã được cho thấy trước đích điểm mà chúng ta tiến tới. Giống như chúng ta đã được trao cho các câu trả lời trước một năm cho những câu hỏi sẽ được hỏi trong kỳ thi! Nếu đó là kỳ thi, thì như thế là gian lận. Nhưng trong phụng vụ, đó lại là món quà của Chúa Giêsu, vị Thầy, vì điều đó chỉ cho chúng ta biết phải đi con đường nào (Chúa Giêsu là Đường), phải nuôi dưỡng những ý nghĩ nào (Chúa Giêsu là Sự Thật), và phải để cho niềm hy vọng nào thúc đẩy chúng ta (Chúa Giêsu là Sự Sống; x. Ga 14,6).

Vị Vua trên thập giá

Đoạn Tin mừng trình bày cho chúng ta thấy một Vua trên thập giá, giữa hai tên trộm. Nếu chúng ta nhớ lại việc Chúa Giêsu vào Giêrusalem trong tiếng ca hát và nhảy múa (x. Lc 19,28-40), chúng ta sẽ kinh ngạc khi thấy Người cuối cùng được trình diện trên “ngai của Thập giá”. Chúng ta thậm chí thấy một tên trộm chế nhạo vương quyền của Người – “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Trong khi đó, tên trộm còn lại nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”, qua đó nhận ra Chúa Giêsu là Vua. Sức mạnh vương quyền của Chúa Giêsu chính là nhờ điều mà “tên trộm lành” đã nhận ra: tình yêu – một tình yêu không giới hạn, nhân từ, phản chiếu uy quyền mà Chúa Giêsu đã được chào đón tại Giêrusalem: “Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dacaria 9,9).

Cho chính mình hay cho người khác?

Chúa Giêsu không đặt “chính mình” lên hàng đầu như những kẻ tố cáo Người chế nhạo muốn Người làm: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” (c. 35); cũng như các lính: “Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi!” (c. 37); và cuối cùng, tên trộm thứ nhất: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!”  (c. 39).

Chúa Giêsu không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ. Người không đến để được phục vụ bằng “sức mạnh của Người” nhưng để dâng hiến toàn bộ chính mình cho người khác nhằm cứu họ. Đây là vương quyền của Chúa Giêsu. Đây cũng là lý do tại sao Người không được hiểu. Và vương quyền của Người là vương quyền của tình yêu, tha thứ và phục vụ – đó là điều Chúa Giêsu đến để mang lại, và cũng là điều Ân sủng của Thập giá đã giành cho chúng ta.

Tâm Bùi chuyển ngữ
từ Vatican News

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/11/7b2d7a7b-96ab-4d85-93f1-5fc96166d8af.webp 608 1080 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-11-23 21:41:382025-11-25 21:46:02Chúa nhật 34 Thường niên: Lễ Chúa Kitô vua vũ trụ

Từ Halloween đến Lễ Các Thánh

29 Tháng 10, 2025/0 Comments/in Bài giảng, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
Có thể nói từ Halloween đến Lễ Các Thánh là hành trình biến đổi: từ sự sợ hãi đến hy vọng, từ giả trang đến chân thật, từ bóng tối đến ánh sáng.

WHĐ (27/10/2025) – Chúng ta đang đứng trước một hành trình đi từ nỗi sợ hãi đến niềm hy vọng lớn lao. Số là vào ngày lễ hội Halloween dịp cuối tháng Mười, khi những con phố phương Tây và ngày càng nhiều nơi ở Việt Nam đang được trang hoàng rực rỡ ánh đèn hình quả bí ngô và bầu không khí cũng tràn ngập tiếng cười của trẻ nhỏ trong những bộ đồ hóa trang với hình thù quái dị, ma mị nữa, nhiều người lại đặt ra câu hỏi: Tại sao người Kitô hữu lại nói về “Lễ Các Thánh” ngay sau đó? Có phải hai ngày lễ này hoàn toàn trái ngược nhau? Nghĩa là một bên thì tôn vinh ma quỷ (Halloween), một bên thì tôn vinh Các Thánh (All Saints’ Day)? Hay phải chăng, đằng sau những chiếc mặt nạ ma quái, vẫn còn ẩn chứa một câu chuyện thiêng liêng về sự chết, sự sống và niềm hy vọng vĩnh hằng?

1. Halloween khoác lên mình nỗi sợ

Halloween và Lễ Các Thánh không tách biệt hoàn toàn như nhiều người nghĩ. Một bên phản ánh nỗi sợ và sự bí ẩn của cái chết, còn bên kia lại nói về ánh sáng của sự sống đời đời và niềm hy vọng phục sinh. Hai lễ hội này có thể nói là hành trình đi từ nỗi sợ đến niềm hy vọng, từ bóng tối của thế gian đến ánh sáng của Thiên Chúa.

Thực ra Halloween viết tắt từ “All Hallows’ Eve”, nghĩa là Đêm vọng Lễ Các Thánh. Đây là ý nghĩa ban đầu của ngày lễ. Khi xưa, người Kitô giáo ở Âu châu mừng Lễ Các Thánh vào ngày 01 tháng 11. Do đó, tối ngày 31 tháng 10 được gọi là đêm vọng. Trong phụng vụ cổ, các Kitô hữu canh thức, cầu nguyện, tưởng nhớ những người đã ra đi trước khi cử hành ngày lễ trọng kính toàn thể Các Thánh vào sáng hôm sau. Thế nhưng, qua dòng thời gian, ý nghĩa tôn giáo dần bị mai một. Thay vào đó, phong tục dân gian lên ngôi, khiến Halloween trở thành một ngày hội mang màu sắc huyền bí, ma quái. Ngày nay nhiều người đang trở lại ý nghĩa ban đầu của ngày lễ này, ít là nhiều nơi ở châu Âu, họ không ùa theo Halloween ma quái nữa.

Nguồn gốc dân gian của Halloween còn gắn liền với lễ Samhain của người Celt. Đây là một tộc người ở vùng Ireland và Anh cổ đại. Họ tin rằng vào đêm cuối tháng Mười, ranh giới giữa thế giới người sống và người chết bị xóa nhòa. Trong thời gian này, các linh hồn có thể trở lại trần gian. Để xua đuổi ma quỷ, người ta đốt lửa, hóa trang, và treo đèn lồng bằng quả bí ngô khắc hình ma quái. Khi Kitô giáo loan truyền đến vùng đất này (Anh thế kỷ I–II, Ireland thế kỷ V), Hội thánh không hủy bỏ hoàn toàn tập tục ấy. Cũng như nhiều nơi trên thế giới, Hội thánh muốn “rửa tội” cho nghi thức này, biến nó thành dịp để nhớ đến những người đã khuất trong ánh sáng đức tin. Tiếc là sau nhiều thế kỷ, khi xã hội dần bị thế tục hóa, Halloween theo đó cũng dần bị thương mại hóa và trở thành một lễ hội tiêu thụ, đầy yếu tố giải trí và kinh dị.

Ngày nay, nhiều người coi Halloween chỉ là dịp vui chơi, hóa trang và flex. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, ta thấy trong những hình ảnh đó vẫn phảng phất nỗi ám ảnh của con người trước cái chết. Khi hóa trang thành ma quái, một cách nào đó, người ta đang diễn tả sự bất an về thân phận mỏng manh của con người. Ta sợ cái chết, sợ bóng tối. Đây là nỗi sợ hiện sinh ở mọi thời. Nói cách khác, Halloween là tấm gương phản chiếu nỗi sợ sâu kín nhất của nhân loại, nhưng được khoác lên lớp vỏ giải trí.

Nếu ta chỉ dừng lại ở trò hóa trang này thì thật đáng tiếc vì sẽ để lọt mất cơ hội vượt qua nỗi sợ bằng đức tin. Đêm Halloween, nếu chỉ dừng lại ở ma quỷ, xác sống,… thì con người sẽ ở mãi trong bóng tối, nhưng nếu ta hiểu đúng ý nghĩa của “All Hallows’ Eve”, đêm chuẩn bị để kính các thánh, thì đó chính là đêm chuyển mình từ sợ hãi sang hy vọng, từ tăm tối của thế gian sang ánh sáng của Nước Trời.

2. Lễ Các Thánh tỏa sáng niềm hy vọng

Ngày 01 tháng 11, Hội thánh mừng lễ trọng kính toàn thể Các Thánh. Các ngài không chỉ là những vị đã được tuyên thánh chính thức, mà còn là tất cả những người đã sống thánh thiện. Họ có thể là cha mẹ, ông bà, tổ tiên của chúng ta. Chỉ có Thiên Chúa biết tên của họ và biết họ đã sống tốt như thế nào.

Trong bài Tin mừng ngày lễ này (Mt 5,1–12), Chúa Giêsu công bố tám mối Phúc thật, như bản Hiến chương của Nước Trời. Chính những người nghèo khó, hiền lành, khát khao công lý, chịu bách hại vì đức tin mới là những người hạnh phúc thật. Thánh thiện chẳng phải là lúc chúng ta dám đi ngược lại với những tiêu chuẩn của thế gian sao? Thay vì chạy theo danh vọng, tiền bạc hay quyền lực, các thánh đã yêu mến và tín trung nơi Thiên Chúa. Vì thế, các ngài được chúc phúc và đáng hưởng hạnh phúc Nước Trời.

Từ cái nhìn đức tin, Lễ Các Thánh cho thấy con người được tạo dựng không phải để chết, nhưng để sống mãi trong Thiên Chúa. Thiên Chúa là Sự Sống. Chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Vì thế, chính chúng ta cũng được hưởng sự sống vĩnh hằng ấy. Ở cùng một bình diện, nếu Halloween diễn tả nỗi sợ cái chết, thì Lễ Các Thánh lại mạc khải chiến thắng của sự sống. Đúng như lời Kinh thánh: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người” (2 Tm 2,11). Các Thánh là lời chứng rõ ràng cho thấy rằng sự chết không có tiếng nói cuối cùng, bởi đức ái mạnh hơn sự chết (x. Dc 8,6). Các Thánh đã sống như Đức Kitô, chết với Người và được sống lại trong Người.

Khi chiêm ngắm các Thánh, ta nhận ra ơn gọi nên thánh không phải là đặc ân của số ít mà là tiếng mời gọi của mọi Kitô hữu. Mọi người đều có thể nên thánh. Đức Phanxicô trong Tông huấn Gaudete et Exsultate (2018) nhắn nhủ rằng: “Thiên Chúa muốn chúng ta nên thánh chứ không muốn chúng ta bằng lòng với một cuộc sống nhạt nhẽo và tầm thường” (số 1). Thú vị là mỗi người đều có “một cách thế nên thánh” riêng. Chẳng hạn, số 14 trong Tông huấn này, Đức Phanxicô cho rằng nên thánh có thể là khi cha mẹ kiên nhẫn, người trẻ trung thực, người thầy tận tâm, hay người lao động âm thầm làm việc vì tình yêu… Sự thánh thiện không xa vời nhưng luôn hiện diện trong đời sống thường ngày.

Vì thế, Lễ Các Thánh là ngày của niềm hy vọng. Chúng ta có quyền tin rằng giống như các Thánh, ta cũng được mời gọi nên thánh. Dù yếu đuối, tội lỗi, ta vẫn được Chúa mời gọi ta chạy đến với Ngài để được Ngài ban ơn và thánh hóa. Niềm vui của ngày lễ không chỉ là tôn vinh các Thánh, mà còn là lời nhắc rằng Thiên Chúa đang chờ và mong ước biến đổi ta mỗi ngày. Nên thánh như thế cũng chính là niềm hy vọng của chúng ta.

3. Từ nỗi sợ đến niềm tin

Nếu nhìn sâu vào ý nghĩa, ta sẽ thấy Halloween và Lễ Các Thánh không đối lập. Có lẽ đây là hai mặt của cùng một thực tại nhân sinh. Một đằng con người đứng giữa bóng tối của cái chết, đằng khác chúng ta đứng trước ánh sáng của sự sống đời đời. Vấn đề là ta chọn nhìn theo hướng nào. Halloween nhắc ta rằng cái chết là điều có thật. Không ai thoát khỏi thân phận đó nhưng Lễ Các Thánh lại nhắc nhở rằng cái chết không phải là dấu chấm hết. Nếu Halloween là đêm tối, thì Lễ Các Thánh là bình minh của sự phục sinh.

Trong xã hội hiện đại, người ta cố gắng trốn tránh thực tại cái chết bằng cách phủ lên nó một lớp hóa trang, hoặc văn hóa “kinh dị” để chế ngự nỗi sợ. Tuy nhiên, Kitô giáo lại mời gọi ta đối diện với cái chết trong đức tin. Thật đẹp khi chúng ta ra nghĩa trang vào dịp này để thấy niềm hy vọng vào Chúa Phục sinh. Khi đứng trước những nấm mồ, ta mới hiểu giá trị của sự sống đời sau. Thánh Phanxicô Assisi từng gọi “chị chết” là người bạn thân thiết, bởi ngài thấy nơi đó điểm đến của hành trình yêu thương.

Với nhãn quan vừa trình bày, về phương diện mục vụ ngày nay, chúng ta cần chung tay “rửa tội lại” cho lễ hội Halloween, bằng cách hướng từ nỗi sợ sang niềm tin. Nhiều giáo xứ ở châu Âu và Việt Nam gần đây đã tổ chức “Holywins” (Thánh thắng), một hình thức mới của Halloween. Thay vì hóa trang thành ma quỷ, các em nhỏ hóa thành các vị thánh, thiên thần, hay nhân vật Kinh thánh, vừa vui tươi vừa học hỏi đức tin. Đó chính là cách Hội thánh biến một tập tục thế tục thành cơ hội loan báo Tin mừng.

Hơn nữa, từ Lễ Các Thánh (01/11) đến lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (02/11), Hội thánh mời gọi ta bước vào mầu nhiệm các Thánh thông công. Đây là mầu nhiệm hiệp thông thật đẹp. Là những người còn sống, chúng ta cầu nguyện cho những linh hồn đang được thanh luyện. Khi cầu nguyện cho các linh hồn, ta không chỉ nhớ đến người thân đã khuất, mà còn tuyên xưng niềm tin vào sự sống lại và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chính niềm tin ấy giúp ta không phải sợ bóng tối của Halloween. Điều đó có nghĩa là ánh sáng của sự phục sinh đã chiếu rọi lên các nghĩa trang và những nấm mồ…

Kết luận

Có thể nói từ Halloween đến Lễ Các Thánh là hành trình biến đổi: từ sự sợ hãi đến hy vọng, từ giả trang đến chân thật, từ bóng tối đến ánh sáng. Halloween nhắc ta rằng thế giới này không phải chỉ toàn ánh sáng, vẫn còn đó sự dữ, sự chết và nỗi sợ; nhưng Lễ Các Thánh tuyên bố rằng ánh sáng mạnh hơn bóng tối, tình yêu mạnh hơn sự chết và đức tin mạnh hơn mọi nỗi sợ hãi. Ước gì trong dịp này, chúng ta cảm nhận rằng không có bóng tối nào quá khủng khiếp mà ánh sáng của Thiên Chúa không thể phá tan.

Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta cũng biết sống hy vọng vào sự sống đời sau. Sự sống vĩnh hằng không chỉ cho những linh hồn đã khuất mà còn cho chính chúng ta, những người đang trên hành trình về Nhà Thiên Chúa. Dù sống hay chết, chúng ta vẫn luôn được Thiên Chúa quan tâm. Thiên Chúa bận tâm đến từng người, vì chúng ta là con cái của Ngài.

Xin chúc mỗi người, đặc biệt khi đứng trước mộ phần, luôn vững tin và tràn đầy hy vọng vào cuộc sống vĩnh hằng mà Thiên Chúa đang mở rộng đón chờ chúng ta!

Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ

Nguồn: hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/10/54cb6ecf-5d92-42b2-ab5f-3008a32dbd2f.webp 608 1080 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-10-29 16:55:012025-10-29 16:55:01Từ Halloween đến Lễ Các Thánh

Chúa Nhật 29 thường niên năm B – Nhóm Mười Hai

20 Tháng 10, 2024/0 Comments/in Bài giảng, Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ

Tin Mừng theo thánh Mác-cô 10,35-45

35 Khi ấy, hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói : “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36 Người hỏi : “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?” 37 Các ông thưa : “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38 Đức Giê-su bảo : “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” 39 Các ông đáp : “Thưa được.” Đức Giê-su bảo : “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống ; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.” 41 Nghe vậy, nhóm mười (môn đệ) kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy : ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em ; 44 ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”

NHÓM MƯỜI HAI CỦA ĐỨC GIÊ-SU

Tin Mừng hôm nay cho biết Đức Giê-su đang ưu tư về “chén mình sắp uống”, trong khi các môn đệ thì lại quan tâm đến vị trí, chỗ đứng chỗ ngồi của mình mà thôi. Có thể chúng ta thường thắc mắc không hiểu tại sao các môn đệ của Đức Giê-su sống gần bên Thầy lại có nhiều phản ứng vô tâm vô tình, nhiều câu hỏi ngờ nghệch đến thế. Xem ra việc Đức Giê-su “thức suốt đêm cầu nguyện” để rồi “kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là tông đồ” chẳng có hiệu quả gì. Xem ra trò chẳng hiểu Thầy bao nhiêu, còn Thầy thì luôn tin tưởng và kiên nhẫn chỉ bảo cho trò từng vấn đề, trong từng chi tiết…

Bản văn Tin Mừng chúng ta vừa nghe thật sự không có chỗ nào thánh Mác-cô dùng từ “môn đệ” hay “tông đồ”, hay “Nhóm Mười Hai”. Thánh Mác-cô chỉ kể lại câu chuyện hai ông Gia-cô-bê và Gio-an đến xin cho họ được ngồi bên tả và bên hữu Thầy Giê-su. Điều này khiến mười người còn lại “tức tối” (ἀγανακτέω) khiến Đức Giê-su phải lên tiếng cho 12 người này biết điều gì cần xin, điều gì là quan trọng và hướng dẫn họ tư cách “làm lớn”, làm lãnh đạo có nghĩa làm “đầy tớ” phục vụ.

Chúng ta cùng đọc lại cách trình bày của Tin Mừng Nhất Lãm để hiểu về Nhóm Mười Hai :

Mt 10,1-16

“Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ :

đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông ; ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô ; ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người.

Lc 6,12-16

Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.

Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ.

Đó là ông Si-môn mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là các ông Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn biệt danh là Quá Khích, Giu-đa con ông Gia-cô-bê, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người đã trở thành kẻ phản bội.

Mc 3,13-19

Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ. Người lập Nhóm Mười Hai và đặt tên cho ông Si-môn là Phê-rô, rồi có ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, và ông Gio-an em ông Gia-cô-bê –Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là con của thiên lôi–, rồi đến các ông An-rê, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Ta–đê-ô, Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.

Chúng ta thấy có đôi chút khác biệt trong 3 danh sách trên, vì có chút diễn giải riêng của mỗi tác giả Tin Mừng Nhất lãm. Còn ông Gio-an có đề cập đến Nhóm Mười Hai, nhưng không đưa ra danh sách đầy đủ, chỉ nói chung chung, trừ Ba-tô-lô-mê-ô. Phải chăngBa-tô-lô-mê-ôlà họ của Na-tha-na-en, “người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối” (Ga 1,45-47) ?

Nhưng nhìn chung, các Tin Mừng trình bày đầy đủ danh sách 12 người theo sát Đức Giê-su : Si-môn Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Tô-ma, Mát-thêu, Gia-cô-bê, Ta-đê-ô, Si-môn, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt.

Nhóm Mười Hai, những người được chọn, biểu tượng của Dân Mới của Thiên Chúa

Trên thực tế, con số 12 không hề mang tính giai thoại nhưng có ý nghĩa trong Kinh Thánh, cho thấy có một sự lựa chọn. Cựu Ước đề cập nhiều bộ lạc chi tộc, nhưng chúng ta thường nghe nói đến 12 chi tộc It-ra-en hợp thành dân Thiên Chúa, tương ứng với tên mười hai người con trai của tộc trưởng Gia-cóp. Con số 12 chi tộc này tượng trưng cho toàn thể nhà It-ra-en. Còn trong Tân Ước, Tin Mừng nhắc đến danh tánh 12 môn đệ/tông đồ của Đức Giê-su và thường được gọi vắn tắt là Nhóm Mười Hai. Các ngài là những người được chọn, nhưng Đức Giê-su không chọn một cách tình cờ, mà đã cầu nguyện suốt đêm để hôm sau chọn lựa. Đến khi ông Giu-đa tự sát, chỉ còn lại 11 người thì Nhóm Mười Hai buộc phải chọn người thay thế. Sách Công vụ Tông Đồ 1,23-26 thuật lại : “Họ đề cử hai người : ông Giô-xếp…và ông Mát-thi-a. Họ cầu nguyện rằng : ‘Lạy Chúa, chính Chúa thấu suốt lòng mọi người ; giữa hai người này, xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai để nhận chỗ trong sứ vụ Tông Đồ, chỗ Giu-đa đã bỏ để đi về nơi dành cho y.’ Họ rút thăm, thăm trúng ông Mát-thi-a : ông được kể thêm vào số mười một Tông Đồ”. Sau biến cố Phục sinh, Nhóm Mười Hai có sứ mạng làm chứng rằng Giáo hội chính là Dân Mới của Thiên Chúa. Thánh Gia-cô-bê đã từng ám chỉ Dân Mới trong lời chào thăm như sau : “Tôi là Gia-cô-bê, tôi tớ của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô, kính gửi mười hai chi tộc đang sống tản mác khắp nơi. Chúc anh em được an vui mạnh khoẻ !” (Gc 1,1)

Theo Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giê-su kêu gọi các môn đệ, chọn mười hai ông và gọi là Tông Đồ. Như vậy, Nhóm Mười Hai vừa là “môn đệ”, vừa là “tông đồ” ? Vậy Môn đệ là gì ? Tông đồ là gì ? vì sao Nhóm Mười Hai cần đến hai danh từ này để xác định căn tính ?

Danh từ “môn đệ” talmîd תַּלְמִיד chỉ xuất hiện một lần trong Cựu Ước, trong sách I Sử Biên niên 25,8 : “Họ bắt thăm về phiên công tác phải giữ, nhỏ cũng như lớn, thầy cũng như trò”. Ngoài ra còn có gốc tính từ chỉ những người học hỏi/thực hành : “Người đánh thức để tôi lắng tai nghe như những người môn đệ” kallimmûdîm‎ כַּלִּמּוּדִֽים (Is 50,4). Mối quan hệ thầy-trò phát triển khi Do-thái giáo ra đời và khi dân Ít-ra-en tiếp xúc với nền văn hóa Hy-lạp. Vì thế, người thầy sẽ truyền lại cho các môn đệ của mình thẩm quyền để thực thi sứ mạng.

Trong Tân Ước, nếu từ “môn đệ” xuất hiện 216 lần thì từ “tông đồ” chỉ xuất hiện 9 lần : 1 lần trong Mát-thêu, 2 lần trong Mác-cô và 6 lần trong Lu-ca. Tin Mừng thánh Gio-an không bao giờ dùng từ “tông đồ” để nói về Nhóm Mười Hai, mà chỉ dùng “môn đệ”, và nhóm “các môn đệ” thường có nghĩa rộng hơn Nhóm Mười Hai, vì bao hàm tất cả người tin qua mọi thời đại. Ngược lại, các sách còn lại trong Tân Ước, đặc biệt là sách Công vụ và các thư của thánh Phao-lô thì dùng “tông đồ” đến 71 lần. Còn trong Cựu Ước (bản Bảy Mươi) thì không thấy từ tương đương, ngoại trừ người Do-thái giáo dùng để ám chỉ các đại diện ở Thượng Hội đồng hay sứ giả của thầy thượng tế.

Trong tiếng Hy-lạp “môn đệ” là Μαθητής, có gốc động từ manthanô μανθάνω có nghĩa là học hỏi/học tập. Vì vậy, trong Tân Ước, chúng ta thấy danh từ này mô tả thực tế về những “môn đệ của Mô-sê” (Ga 9,28), “môn đệ của nhóm Pha-ri-sêu” (Mt 22, 15-16), môn đệ của Gio-an Tẩy Giả (Cv 19,1) và đặc biệt môn đệ của Đức Giê-su (Mt 10,1 ; Mc 6,45 ; Lc 5,30 ; Ga 4,1…). Sau cái chết của Đức Giê-su, sách Công vụ Tông Đồ ám chỉ tất cả Ki-tô hữu đều là môn đệ (Cv 9,1). Như thế, học trò sẽ gắn bó với thầy chứ không chỉ gắn bó với lời dạy của thầy. Làm môn đệ của Đức Giê-su, mỗi người được kêu gọi từ bỏ tất cả mọi sự để đi theo Thầy (Mt 8, 21-22) và thậm chí dám hiến mạng sống mình vì Thầy (Mt 10, 23-25).

Còn “tông đồ” có gốc Hy-lạp cổ là ἀπόστολος / apóstolos ám chỉ một người được sai đi cho một sứ mạng, đảm nhận trách nhiệm của sứ mạng. Từ này ám chỉ Nhóm Mười Hai, những người đã đồng hành cùng Đức Giê-su trong suốt hành trình rao giảng của Người và đã trở thành nhân chứng của Tin Mừng Phục sinh. Đối với Tin Mừng Lu-ca và sách Công vụ, chỉ có các môn đệ trong Nhóm Mười Hai mới được gọi là “tông đồ”. Tuy nhiên, như đã biết, thánh Phao-lô dù không thuộc Nhóm Mười Hai, nhưng vẫn tự xưng là “tông đồ” (Gl 1,1) mà không cần giải thích gì thêm, thậm chí ngài còn được nhìn nhận là “tông đồ của các dân ngoại”.

Sứ mạng của Nhóm Mười Hai

Như vậy, Nhóm Mười Hai là những người thuộc mọi thành phần trong dân (nông dân, kẻ thu thuế, người đánh cá, kẻ quá khích) được mời gọi đi theo Thầy Giê-su, đó là “những kẻ Người muốn”. Và các ông tự nguyện“đến với Người”. Thánh Mác-cô nói rõ : Đức Giê-su “lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ”(Mc 3,13-14).Động từ μένω – “ở lại” với Đức Giê-su, hàm nghĩa hiện diện và chia sẻ cuộc sống với Thầy Giê-su trong tư cách là học trò. Việc “ở lại với Thầy Giê-su” làm cho họ trở thành người môn đệ, nhận biết Người là Đấng Mê-si-a để rồi được Người sai đi công bố Tin Mừng cứu độ.

Bên cạnh đó, Tin Mừng Mt 10,1-16 cho chúng ta hiểu rõ sứ mạng Nhóm Mười Hai trong chi tiết cụ thể : “Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng : “…hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. Dọc đường hãy rao giảng rằng : Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn…Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy… Nếu người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại… Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”.

Sau biến cố phục sinh và thăng thiên của Chúa Ki-tô, Nhóm Mười Hai được lãnh nhận ân huệ Chúa Thánh Thần vào ngày Lễ Ngũ Tuần, mạnh mẻ ra đi làm chứng nhân Tin Mừng Phục Sinh, loan truyền ơn cứu độ cho thế giới, cho dù phải hy sinh chịu chết. Nhóm Mười Hai chu toàn trách nhiệm lãnh đạo trong cộng đoàn Hội Thánh tiên khởi. Về sau, sự phát triển của cộng đoàn tiên khởi và sự đa dạng về gốc gác của các thành viên đã nhanh chóng buộc những người có trách nhiệm phải đáp ứng nhiều mối quan tâm cũng như nhu cầu cấp bách của cộng đồng, vậy là mỗi người trong Dân Thánh Mới đều đảm nhận một trách vụ trong cộng đồng : “Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn. Và chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Ki-tô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hợp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô” (Ep 4,10-13).

Ngày nay, một khi chúng ta đã xác định được căn tính Nhóm Mười Hai là môn đệ và là tông đồ của Chúa Giê-su, thì chúng ta có thể hiểu rằng bất kỳ người Ki-tô hữu nào tin và đi theo Chúa Giê-su, chia sẻ cuộc sống và sứ mạng của Người, thì đều tiếp nối sứ mạng của Nhóm Mười Hai, làm hình thành một Dân Mới, gắn kết hiệp nhất với nhau nhờ một đức tin và một phép rửa để gầy dựng Nước Thiên Chúa giữa thế gian này. Thánh Phao-lô đã khuyên nhủ : “Anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại ; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hợp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4,1-6).

Cầu nguyện :

Lạy Thiên Chúa cao cả quyền năng, xin nghe lời chúng con cầu nguyện cho Hội Thánh là Mẹ chúng con và là Hiền thê của Đức Ki-tô, Con Một Chúa. Ước gì Hội Thánh được chia sẻ vinh quang với Đức Ki-tô khi làm cho muôn dân được tham dự vào sự sống của Chúa và được mang danh là Ki-tô hữu. Ước gì đoàn con của Hội Thánh ngày càng thêm đông đảo và trở thành những tín hữu đích thực của Đức Ki-tô. A-men.

Nguồn: tgpsaigon.net

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/2pd.jpg 435 580 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2024-10-20 22:08:082024-10-25 22:15:24Chúa Nhật 29 thường niên năm B – Nhóm Mười Hai

Tin mới đăng

  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 3 mùa Vọng năm A (Mt 11,2-11)9 Tháng 12, 2025 - 3:43 chiều
  • Logo năm Mục vụ 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế…9 Tháng 12, 2025 - 11:08 sáng
  • Đoàn TNTT Tôma Thiện tham dự nghi thức chào cờ đầu tháng với chủ đề “Cầu Nguyện”7 Tháng 12, 2025 - 11:13 sáng
  • Lịch Công Giáo và Mục vụ Giáo xứ Hoài Lai từ 06/12/2025 đến 14/12/20256 Tháng 12, 2025 - 11:10 sáng
  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 2 mùa Vọng năm A (Mt 3,1-12)3 Tháng 12, 2025 - 10:21 chiều

Follow us on Facebook

Vừa cập nhật

  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 3 mùa Vọng năm A (Mt 11,2-11)9 Tháng 12, 2025 - 3:43 chiều
  • Logo năm Mục vụ 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế…9 Tháng 12, 2025 - 11:08 sáng
  • Đoàn TNTT Tôma Thiện tham dự nghi thức chào cờ đầu tháng với chủ đề “Cầu Nguyện”7 Tháng 12, 2025 - 11:13 sáng
  • Lịch Công Giáo và Mục vụ Giáo xứ Hoài Lai từ 06/12/2025 đến 14/12/20256 Tháng 12, 2025 - 11:10 sáng
  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 2 mùa Vọng năm A (Mt 3,1-12)3 Tháng 12, 2025 - 10:21 chiều

Tin Giáo hội

  • Logo năm Mục vụ 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế…
  • Thư mục vụ năm 2026 +Gm. Phêrô Kiều Công Tùng
  • Đại lễ kính các thánh Tử đạo Việt Nam tại đền thánh Phúc Nhạc 24.11.2025
  • Ngày gặp mặt gia đình chủng viện Phát Diệm năm 2025
  • Thông báo: V/v Bổ nhiệm Ban Tư vấn và các Hạt trưởng nhiệm kỳ mới

Lịch làm việc Văn phòng:

+ Thứ 3 – Thứ 7: 7g30 – 11g30; 14g30 – 18g30

+ Chúa nhật: 6g30 – 10g30; 16g30 – 20g30

+ Thứ hai nghỉ cả ngày

Facebook

Thông tin liên hệ

+ Địa chỉ: Nhà thờ Giáo xứ Hoài Lai – xóm 9A, Lai Thành, Kim Sơn, Ninh Bình.

+ Điện thoại: (+84) 916.612.880

Ban truyền thông Giáo xứ Hoài Lai - powered by Enfold WordPress Theme
  • Facebook
  • Youtube
  • Tin Tức
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Scroll to top