Loading
  • Facebook
  • Youtube
Giáo xứ Hoài Lai - Giáo phận Phát Diệm
  • TRANG CHỦ
  • GIỚI THIỆU
    • Lược sử giáo xứ
    • Linh mục phụ trách
    • Hội đồng mục vụ
  • TIN TỨC
    • Giáo hội Hoàn Vũ
    • Giáo hội Việt Nam
    • Giáo phận Phát Diệm
    • Giáo xứ Hoài Lai
  • SỐNG LỜI CHÚA
  • MỤC VỤ
    • Giới trẻ
    • Thiếu Nhi Thánh Thể
  • LỊCH PHỤNG VỤ
  • LIÊN HỆ
  • Search
  • Menu Menu

Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 3 mùa Vọng năm A (Mt 11,2-11)

9 Tháng 12, 2025/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
WHĐ (09/12/2025) – Đức Giêsu ca ngợi sự cao trọng của Gioan Tẩy giả, dù ông chỉ là người dọn đường (Mt 11,10). Theo bạn, điều gì làm nên sự cao trọng của ông?

PHÚC ÂM: Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác ?” Đức Giê-su trả lời : “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe :Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người phong được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Họ đi rồi, Đức Giê-su bắt đầu nói với đám đông về ông Gio-an rằng: “Anh em ra xem gì trong hoang địa ? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng ? Thế thì anh em ra xem gì ? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng ? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì ? Một vị ngôn sứ chăng ? Đúng thế đó ; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.

“Tôi nói thật với anh em : trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.

CÂU HỎI TÌM HIỂU:

1. Hãy mô tả lại cuộc đời của Gioan Tẩy giả trong Tin Mừng Mát-thêu. Đọc Mt 3,1-17; 4,12.17; 11,2-15; 14,1-13. Cuộc đời của Gioan có liên quan gì với cuộc đời Đức Giêsu không?

2. Đọc Mt 11,2-3. Tại sao Gioan lại sai môn đệ của ông đến hỏi Đức Giêsu câu hỏi ấy?

3. So sánh Mt 3,10-12 với Mt 11,3-5. Khuôn mặt Đấng Mêsia của Gioan có khác với Đức Giêsu không?

4. Đọc Isaia 29,18; 35,6; 26,19; 61,1 và Mt 11,5. Đức Giêsu có làm ứng nghiệm các lời ngôn sứ Isaia về thời Đấng Mêsia không?

5. Đọc Mt 11,5. Những điều Đức Giêsu nói ở Mt 11,5 có được thực hiện trong Mt 8-9 không?

6. Đọc Mt 11,6. Câu này có nghĩa gì? Gioan Tẩy giả có nguy cơ vấp ngã vì Đức Giêsu không? Điều gì nơi Đức Giêsu khiến niềm tin của ông bị lung lay?

7. Đọc Mt 11,7-10. Đức Giêsu đã hỏi ba câu giống nhau nào? Đối với Đức Giêsu, Gioan Tẩy giả là ai? Ông làm nhiệm vụ gì cho Đức Giêsu?

8. Đọc Mt 11,11. Bạn hiểu câu này như thế nào?

CÂU HỎI SUY NIỆM: Đức Giêsu ca ngợi sự cao trọng của Gioan Tẩy giả, dù ông chỉ là người dọn đường (Mt 11,10). Theo bạn, điều gì làm nên sự cao trọng của ông?

Có khi nào đức tin của bạn vào Chúa bị lung lay không? Đâu là lý do?

PHẦN TRẢ LỜI

1. Tin Mừng Mát-thêu cho ta thấy khuôn mặt của ông Gioan Tẩy giả. Ông đã rao giảng trong hoang địa, mời gọi dân chúng hối cải và đến chịu phép rửa của ông nơi sông Gio-đan. Chính Đức Giêsu cũng đến với Gioan để xin chịu phép rửa. Ông từ chối vì thấy mình bất xứng, nhưng cuối cùng ông cũng vâng lời và ban phép rửa cho Đức Giêsu (x. Mt 3,1-17). Khi nghe tin Gioan bị bắt, Đức Giêsu rút lui qua miền Galilê, đến Ca-phác-na-um và bắt đầu sứ vụ rao giảng (x. Mt 4,12.17). Khi Gioan bị cầm tù, ông đã sai các môn đệ của mình đến gặp Đức Giêsu để hỏi xem Ngài có thật là Đấng Mêsia (= Kitô) không, và đã nhận được câu trả lời. Đức Giêsu còn nhìn nhận vai trò cao trọng của Gioan, đó là vai trò của người dọn đường cho Đấng Mêsia ngự đến (x. Mt 11,2-15). Cuối cùng, ông Gioan đã bị giết bởi vua Hê-rô-đê vì ông đã can ngăn vua không được lấy vợ của anh mình (x. Mt 14,1-13). Như vậy cuộc đời của ông Gioan Tẩy giả khá gắn liền với cuộc đời của Đức Giêsu. Cả ông và Đức Giêsu đều loan báo cùng một sứ điệp (Mt 3,2; 4,17) và chịu chết vì sứ mạng của mình.

2. Ông Gioan khi đang ngồi tù, đã sai các môn đệ của mình đến với Đức Giêsu để hỏi xem Ngài có phải là “Đấng phải đến” không? (Mt 11,3). “Đấng phải đến” (ho erchómenos) ở đây là Đấng Mêsia (= Kitô) mà dân Do-thái mong đợi. Như vậy có vẻ lúc này ông Gioan không tin Đức Giêsu là Đấng Mêsia. Các giáo phụ đã đưa ra nhiều giải thích cho sự không tin này. Thí dụ: Gioan sai các môn đệ đi để họ có dịp tiếp xúc với Đức Giêsu và tin vào Ngài, hay Gioan muốn ép Đức Giêsu phải nói một cách công khai về căn tính của Ngài, hay vì ở trong tù, đức tin của Gioan bị chao đảo nên ông cần những lời nâng đỡ của Đức Giêsu.

3. Khi so sánh hai đoạn văn trên, ta thấy có sự tương phản giữa hai khuôn mặt của Đấng Mêsia. Dưới cái nhìn của Gioan Tẩy giả, Mêsia là Đấng sẽ đến như một vị thẩm phán kinh khủng, xét xử và trừng phạt thẳng tay những ai không chịu hối cải và sinh trái (Mt 3,10-12). Còn dưới cái nhìn của Đức Giêsu, Mêsia là Đấng đến để chữa lành người mù, người què, người phong, người điếc và hoàn sinh kẻ chết nữa. Ngài còn đến để loan báo Tin Mừng cho người nghèo (Mt 11,3-5). Như vậy, theo Đức Giêsu, Đấng Mêsia đến để đem niềm vui hơn là sự phán xét.

4. Hình ảnh về Đấng Mêsia của Đức Giêsu phù hợp với hình ảnh về thời thiên sai trong sách ngôn sứ Isaia. “Ngày ấy, kẻ điếc sẽ được nghe những lời trong sách, mắt người mù sẽ thoát cảnh mù mịt tối tăm…” (Is 29,18). “Bấy giờ, kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò” (Is 35,6). “Các vong nhân của Ngài sẽ sống lại, xác họ sẽ đứng lên…” (Is 26,19). Cả việc kẻ nghèo được nghe loan báo Tin Mừng cũng được ngôn sứ Isaia nói đến: “ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn” (Is 61,1). Vậy Đức Giêsu đã làm ứng nghiệm những lời ngôn sứ Isaia nói về thời của Đấng Mêsia.

5. Những điều Đức Giêsu nói ở Mt 11,5 gần như là những gì Ngài đã làm ở Mt 8-9. Đức Giêsu đã chữa người mù (Mt 9,27-31), người què (Mt 9,1-8), người phong (Mt 8,1-4); người câm (Mt 9,32-34), người chết (Mt 9,18-19.23-26). Còn chuyện người nghèo được loan báo Tin Mừng ở Mt 11,5 thì đã được nói đến ở Mt 5,3 hay Mt 9,35-36.

6. Câu nói của Đức Giêsu ở Mt 11,6 là một mối phúc: “Phúc cho người không vấp ngã vì tôi.” “Vấp ngã vì tôi” có nghĩa là vì thấy lối sống của Đức Giêsu mà đi đến chỗ không tin vào Ngài. Đó có thể là trường hợp của ông Gioan. Ông này đã nhận ra Đức Giêsu là ai khi Ngài đến gặp ông để lãnh nhận phép rửa. Gioan có một hình ảnh cố định về Đấng Mêsia: Đấng này phải là Đấng đến để phán xét và trừng phạt thẳng tay những tội nhân không chịu hối cải. Bởi đó, sau một thời gian, khi Gioan thấy Đức Giêsu không làm gì để biểu lộ cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, mà lại tỏ ra hiền lành và đầy lòng thương xót đối với tội nhân, thì ông bắt đầu có chút nghi ngờ. Ông có thể không còn tin Đức Giêsu, vì hoạt động của Ngài không khớp với hình ảnh Đấng Mêsia có trong suy nghĩ của ông.

7. Khi các môn đệ của ông Gioan ra đi, Đức Giêsu đã hỏi dân chúng ba câu hỏi giống nhau về Gioan: “Các người đi xem gì?” (Mt 11,7.8.9). Ngài hỏi, rồi Ngài tự trả lời. Hẳn nhiên Gioan không phải là một cây sậy yếu ớt và nghiêng ngả theo chiều gió, ông là một ngôn sứ mạnh mẽ cứng rắn. Gioan cũng không phải là người ăn mặc sang trọng sống trong cung điện, ông chỉ là một ngôn sứ sống khổ hạnh nơi hoang địa. Câu hỏi thứ ba cho thấy đúng ông là một ngôn sứ, mà còn hơn cả ngôn sứ bình thường nữa, vì ông là người dọn đường cho Đấng Mêsia đến với dân của ông (Mt 11,10). Ông đóng vai trò của ngôn sứ Êlia (Mt 11,14).

8. Theo Mt 11,11, ông Gioan Tẩy giả thì cao trọng hơn mọi người. Ông ở đỉnh cao nhất của Cựu Ước, vì chỉ mình ông là ngôn sứ trực tiếp giới thiệu Đấng Mêsia cho dân, và ông cũng là người loan báo Nước Trời đã đến gần. Tuy nhiên, ông lại không thuộc về Nước Trời một cách trọn vẹn, vì Nước này vẫn còn đang được hình thành bởi Đức Giêsu, qua cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Bởi vậy kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời vẫn cao trọng hơn ông.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nguồn:hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/12/3ca5b779-3cd5-490f-84cc-ce255db15c03.webp 608 1080 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-12-09 15:43:582025-12-09 15:43:58Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 3 mùa Vọng năm A (Mt 11,2-11)

Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 2 mùa Vọng năm A (Mt 3,1-12)

3 Tháng 12, 2025/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
WHĐ (03/12/2025) – Hối cải là như cây sinh trái tốt. Bạn nghĩ cây đời mình phải sinh trái gì trong Mùa Vọng này? Hối cải là ra khỏi sự tự mãn. Bạn thấy người Công giáo có dễ tự mãn không?

PHÚC ÂM: Hồi ấy, ông Gio-an Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” 3Ông chính là người đã được ngôn sứ I-sai-a nói tới : Có tiếng người hô trong hoang địa : Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.

Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. Bấy giờ, người ta từ Giê-ru-sa-lem và khắp miền Giu-đê, cùng khắp vùng ven sông Gio-đan, kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan. Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng : “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối. Đừng tưởng có thể bảo mình rằng : ‘Chúng ta đã có tổ phụ Áp-ra-ham.’ Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Áp-ra-ham. Cái rìu đã đặt sát gốc cây : bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa. Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa. Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân : thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi.

CÂU HỎI TÌM HIỂU:

1.Lời mời gọi của Gioan Tẩy giả ở Mt 3,2 có giống với lời mời gọi của Đức Giêsu ở Mt 4,17 không? Theo cái nhìn của người Do-thái, Nước Trời là Nước nào?

2.Đọc Mt 3,2-3. Hối cải nghĩa là gì? Tại sao cần phải hối cải để chuẩn bị cho Nước Trời gần đến?

3.Đọc Isaia 40,3. ĐỨC CHÚA ở đây là ai? Đọc Mt 3,3. ĐỨC CHÚA ở đây để chỉ ai? Đâu là nhiệm vụ của Gioan Tẩy giả?

4.Đọc Mt 3,1-2.4-5. Theo bạn, tại sao Gioan có được sức hấp dẫn quần chúng mạnh mẽ như vậy?

5.Đọc Mt 3,6. Dân chúng đến với Gioan để làm gì? Nơi sông Giođan, họ nhận được ơn gì?

6.Đọc Mt 3,7-10. Ông Gioan đòi những nhà lãnh đạo tôn giáo phải làm gì, và phải tránh thái độ nào, để biểu lộ lòng hối cải?

7.Trong Mt 3,10-12có mấy từ lửa? Tin Mừng Mát-thêu có nói nhiều đến lửa không? Xem Mt 3,10.11.12; 5,22.29-30; 13,42.50; 18,9; 25,41. Lửa này là thứ lửa nào?

8. Có bao nhiêu từ hối cải trong bài Tin Mừng này? Đọc lại cả bài Tin Mừng này, bạn thấy từ hối cải mang những ý nghĩa nào?

CÂU HỎI SUY NIỆM: Hối cải là như cây sinh trái tốt. Bạn nghĩ cây đời mình phải sinh trái gì trong Mùa Vọng này? Hối cải là ra khỏi sự tự mãn. Bạn thấy người Công giáo có dễ tự mãn không?

PHẦN TRẢ LỜI

1. Lời mời gọi của Gioan Tẩy giả ở Mt 3,2 giống hoàn toàn với lời mời gọi của Đức Giêsu ở Mt 4,17: “Anh em hãy hối cải, vì Nước Trời đã đến gần!” Trong Tin Mừng Mát-thêu, Nước Trời đồng nghĩa với Nước Thiên Chúa. Người Do-thái từ lâu đã mong ngóng Nước Thiên Chúa đến với họ, một Nước của công lý, hòa bình và thịnh vượng, không bị chiến tranh hay kẻ thù quấy phá. Họ mong Thiên Chúa sai Đấng Mêsia đến để làm vua cai trị Nước của Ngài. Bây giờ, vị ngôn sứ Gioan loan báo rằng Nước ấy đã đến gần rồi. Đây thật là một tin mừng lớn cho dân Chúa sau thời gian dài chờ đợi.

2. Để đón Nước Trời đã đến gần rồi, Gioan mời mọi người Do-thái hối cải (Mt 3,2-3). Theo Cựu Ước, hối cải là quay lại, quay về với Thiên Chúa sau khi đã quay lưng đi, khi không giữ tròn giao ước với Ngài. Hối cải không phải chỉ là thay đổi lối nghĩ, mà còn là thay đổi tận căn toàn bộ lối sống của mình. Vì Nước Trời đã đến gần, nên cần hối cải trong nội tâm để đón lấy món quà ấy của Thiên Chúa. Nếu muốn được hưởng Nước của công lý và hòa bình thì người Do-thái phải sống trong thái độ yêu chuộng hoà bình và công lý, phải nắn lại cho thẳng lối sống của mình.

3. Thánh Mát-thêu đã trích dẫn sách ngôn sứ Isaia (550 tCN) để nói về ông Gioan Tẩy giả (Mt 3,3). Nguyên văn Isaia 40,3 như sau: “Có tiếng người hô: Trong hoang địa, hãy chuẩn bị con đường cho ĐỨC CHÚA; trong sa mạc, hãy làm cho thẳng một xa lộ cho Thiên Chúa của chúng ta.” Còn trong Tin Mừng Mát-thêu ta thấy câu trên được trích như sau: “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy chuẩn bị con đường cho Đức Chúa; hãy làm cho thẳng các lối của Người.” Như vậy ta thấy thánh Mát-thêu không trích nguyên văn Is 40,3, nhưng có đổi một chút để phù hợp với Gioan Tẩy giả. Gioan là người có nhiệm vụ dọn đường cho Đức Chúa đến. Đây không phải là con đường vật chất, nhưng là con đường của lối sống cần phải chấn chỉnh lại. Trong Is 40,3, ĐỨC CHÚA (YHWH) để chỉ Thiên Chúa. Còn trong Mt 3,3, Đức Chúa (Kurios) để chỉ Đức Giêsu Kitô.

4. Gioan Tẩy giả có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với dân Do-thái thời của ông. Mát-thêu 3,5 cho thấy cảnh tượng người ta từ nhiều nơi đổ xô đến với ông. Sức hấp dẫn ấy trước hết đến từ nếp sống khổ hạnh của ông về quần áo và về thức ăn (Mt 3,4). Cách ăn mặc của ông có phần giống với ngôn sứ Êlia ngày xưa (x. 2V 1,8). Nơi ở của ông cũng đặc biệt, đó là vùng hoang địa của Giuđê, nằm dọc theo bờ Tây của Biển Chết. Từ hoang địa, ông lên tiếng mạnh mẽ đòi người ta hoán cải. Nói chung, nơi ông toát ra thần thái của một vị ngôn sứ lớn, làm người ta bị cuốn hút và tin tưởng. Hơn thế nữa, từ 400 năm nay, dân Do-thái đã chờ đợi Thiên Chúa sai một vị ngôn sứ đến với họ. Nay họ vui sướng biết bao vì Thiên Chúa đã chịu ngỏ lời với họ qua Gioan.

5. Ông Gioan kêu gọi mọi người hối cải. Và họ đã đáp lời bằng cách đến với ông để xưng thú tội lỗi và để được ông ban phép rửa tại sông Gio-đan (Mt 3,6). Phép rửa của Gioan tại sông Gio-đan gắn liền với việc xưng thú tội lỗi để được tha thứ (x. Mc 1,4). Nhóm Qumran gần Biển Chết mỗi ngày đều có nghi thức dìm mình trong nước để thanh tẩy, nhưng phép rửa của Gioan thì chỉ cần thanh tẩy một lần là đủ.

6. Khi những người thuộc giới lãnh đạo tôn giáo (nhóm Pharisêu và Xa-đốc) đến chịu phép rửa của Gioan, ông đòi họ phải bày tỏ lòng hối cải thật sự qua hai thái độ. Trước hết phải ra khỏi sự tự mãn, tự hào mình là con cháu tổ phụ Ápraham, và tin thế nào mình cũng được Thiên Chúa thương (Mt 3,9). Kế đó phải sinh quả tốt, phải sống tốt, như dấu chỉ của lòng hối cải thật sự (Mt 3,8.10). Gioan còn lên tiếng đe dọa họ về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống, cũng như về số phận của cái cây không sinh trái bị chặt và quăng vào lửa.

7. Có 3 từ lửa trong Mt 3,10-12. Lửa để đốt cái cây không sinh quả tốt (Mt 3,10), hay đốt thóc lép (Mt 3,12). Đó là lửa của sự trừng phạt. Trong Tin Mừng Mát-thêu, lửa thường là để trừng phạt kẻ dữ: Lửa hỏa ngục: Mt 5,22.29-30; 18,9; Lò lửa, nơi của những người bị tống ra khỏi Nước Chúa: Mt 13,42.50; lửa đời đời: Mt 18,8; 25,41. Phép rửa của Đấng đến sau Gioan là Đức Giêsu sẽ được làm trong Thánh Thần và lửa (Mt 3,11). Lửa ở đây không phải để trừng phạt, nhưng để thanh luyện.

8. Có ba từ hối cải trong bài Tin Mừng này (Mt 3,2.8.11). Hối cải được diễn tả bằng ba cách. Hối cải bằng cách dọn đường cho Chúa, làm đường cho thẳng (Mt 3,3). Hối cải bằng cách sinh hoa trái (Mt 3,8). Hoán cải bằng cách chịu phép rửa của Gioan (Mt 3,11).

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nguồn: hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/12/32ed81ee-86b7-4105-88eb-de9b06b53693.webp 608 1080 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-12-03 22:21:582025-12-03 22:21:58Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 2 mùa Vọng năm A (Mt 3,1-12)

Giờ anh em không ngờ (30/11/2025 – Chúa nhật I mùa Vọng năm A)

29 Tháng mười một, 2025/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến. “Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”.

Bài Ðọc I: Is 2, 1-5

“Thiên Chúa quy tụ các dân tộc trong nước Người, để hưởng bình an đời đời”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðiềm Isaia con trai của Amos đã thấy về Giuđa và Giêru-salem. Ðiềm sẽ xảy ra trong những ngày sau hết, là núi của nhà Chúa được xây đắp trên đỉnh các núi, và núi ấy sẽ cao hơn các đồi, và các dân nước sẽ đổ về đó.

Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: “Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà Thiên Chúa của Giacóp. Người sẽ dạy chúng ta đường lối của Người, và chúng ta sẽ đi theo ý định của Người”; vì luật pháp sẽ ban ra từ Sion, và lời Chúa sẽ phát ra từ Giêrusalem.

Người sẽ xét xử các dân ngoại và khiển trách nhiều dân tộc. Họ sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm. Nước này không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa; người ta cũng sẽ không còn thao luyện để chiến đấu nữa. Hỡi nhà Giacóp, hãy đến, và chúng ta hãy bước đi trong ánh sáng của Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: “Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa” .

Xướng: 1) Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: “Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa”. Hỡi Giêrusalem, chân chúng tôi đang đứng nơi cửa thành rồi.

Ðáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: “Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa”.

2) Giêrusalem được kiến thiết như thành trì, được cấu tạo kiên cố trong toàn thể. Nơi đây các bộ lạc, các bộ lạc của Chúa tiến lên.

Ðáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: “Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa”.

3) Theo luật pháp của Israel, để ngợi khen danh Chúa. Tại đây đã đặt ngai toà thẩm phán, ngai toà của nhà Ðavít.

Ðáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: “Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa” .

4) Hãy nguyện cầu cho Giêrusalem được thanh bình, nguyện cho những kẻ yêu mến ngươi được an ninh. Nguyện cho trong thành luỹ được bình an, và trong các lâu đài của ngươi yên ổn.

Ðáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: “Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa” .

5) Vì anh em và bằng hữu của tôi, tôi nguyện chúc: bình an cho ngươi! Vì nhà Chúa là Thiên Chúa chúng ta, tôi khẩn cầu cho ngươi những điều thiện hảo.

Ðáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: “Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa”.

 

Bài Ðọc II: Rm 13, 11-14

“Phần rỗi chúng ta gần đến”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, biết rằng thời này là lúc chúng ta phải thức dậy. Vì giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo. Ðêm sắp tàn, ngày gần đến. Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị. Nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và chớ lo lắng thoả mãn những dục vọng xác thịt.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Tv 84, 8

Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho chúng con. – Alleluia.

Phúa Âm: Mt 24, 37-44

“Hãy tỉnh thức để sẵn sàng”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Trong thời ông Noe xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy. Cũng như trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy. Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Và có hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, còn người kia bị bỏ rơi. Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến.

“Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”.

Ðó là lời Chúa.

BÀI 1: GIỜ ANH EM KHÔNG NGỜ

Suy Niệm

Nhiều người tưởng Kitô giáo đã kết thúc
bằng việc Chúa Giêsu phục sinh và lên trời.
Chẳng còn gì phải chờ nữa.
Thật ra Kitô giáo là tôn giáo của sự chờ mong.
Chúng ta ít khi để ý đến câu sau trong Kinh Tin kính:
“Người sẽ trở lại trong vinh quang,
để phán xét kẻ sống và kẻ chết.”
Các kitô hữu sơ khai ngóng ngày Chúa Giêsu lại đến.
Họ cầu xin: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến !” (Kh 22,20),
và họ hy vọng chẳng bao lâu nữa Chúa sẽ trở lại.
Các thế hệ kitô hữu vẫn giữ nguyên niềm hy vọng này.
Hai ngàn năm trôi qua là một Mùa Vọng kéo dài.
Mùa Vọng không chỉ là bốn tuần trước lễ Giáng Sinh.
Ngày nào Chúa chưa trở lại trong vinh quang
Ngày đó chúng ta còn sống trong Mùa Vọng.

Cứ vào đầu Mùa Vọng, Phụng vụ lại nhắc ta phải chờ.
Chờ Ngày Chúa quang lâm, toàn thắng trên mọi địch thù.
Chờ Ngày Chúa đến để xét xử toàn thể vũ trụ.
Chờ Ngày thân xác chúng ta được phục sinh.
Ngày tận thế không phải là ngày của hủy diệt
cho bằng là ngày mọi thụ tạo bắt đầu cuộc sống mới.

Tuy nhiên, Ngày Chúa đến là một ngày bất ngờ (Mt 24,42).
Chẳng ai biết đích xác giờ nào Chúa sẽ đến (Mt 24,44).
Đây là một mầu nhiệm chỉ mình Chúa Cha biết (Mt 24,36).
Chính vì Chúa đến bất ngờ mà con người phải sẵn sàng,
Khi luôn sẵn sàng, bất ngờ không còn là bất ngờ nữa.
Việc Chúa đến bất ngờ không làm chúng ta hoảng sợ.
Ai luôn canh thức thì chẳng sợ kẻ trộm khoét vách nhà mình.
Chúa không đến bất ngờ để chơi khăm chúng ta,
vì Ngài muốn mọi người được cứu độ khi Ngài đến.

Việc chờ đợi lâu có thể khiến lòng chúng ta phai nhạt.
Chúng ta bị hút vào vòng xoáy của cuộc sống mỗi ngày.
Chuyện ăn uống, giải trí, chuyện gia đình, con cái,
Chuyện làm ăn, bán buôn, chuyện thăng quan tiến chức.
Chúng ta tưởng mọi sự sẽ mãi mãi trôi êm,
cho đến khi một biến cố bất ngờ xảy ra làm tất cả vỡ vụn.
Những người thời ông Nôê bất ngờ trước cơn hồng thủy.
Những người ở Xơ-đôm bất ngờ trước ngọn lửa từ trời.
Nhiều người cũng bị bất ngờ vào ngày Chúa trở lại.
Lúc đó có hai người đàn ông đang làm ruộng.
Họ đang vất vả làm việc để nuôi gia đình.
Bề ngoài hai người chẳng có gì khác nhau.
Cũng có hai phụ nữ đang kéo cối xay bột để làm bánh.
Họ đang lo cho bữa ăn của cả nhà.
Bề ngoài hai người này cũng chẳng có gì khác nhau.
Nhưng khi Chúa đến thì chỉ một người được đem đi,
còn người kia bị bỏ lại (Lc 24,40-41).
Chúng ta không rõ tại sao lại có sự khác biệt lớn lao ấy,
dù họ làm cùng một việc như nhau.
Chỉ Chúa là Thẩm phán mới biết nội tâm từng người.
Những người được tuyển chọn “sẽ được đem đi
trên đám mây để nghênh đón Chúa” (1 Tx 4,17; x. Mt 24,31).

Làm thế nào để người kitô hữu sống đời thường,
sống như mọi người, với bao nỗi âu lo và trách nhiệm,
mà vẫn không bị kéo xuống bởi cái tầm thường?
Làm sao để những nhu cầu cấp bách của cuộc sống hiện tại
không làm cho họ quên những giá trị cao cả, nhân văn?
Làm sao để khi tận tụy xây dựng sự nghiệp ở đời này
họ không quên tích lũy cho mình gia sản trên trời?
Thời gian chờ Ngày Chúa trở lại là thời gian của Giáo Hội.
Giáo Hội phải rao giảng Tin Mừng trên khắp thế giới,
để làm chứng cho mọi dân tộc được biết.
Rồi sau đó mới đến Ngày tận thế (Mt 24,14).
Thời gian chờ Ngày Chúa trở lại trong vinh quang
là thời gian làm cho thế giới công bằng hơn, huynh đệ hơn,
để khi Chúa đến không một ai bị bỏ lại.

 

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con thấy Chúa thật lớn lao,
để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ.

Xin cho con thấy Chúa thật bao la,
để cả mặt đất cũng chưa vừa cho con sống.

Xin cho con thấy Chúa thật thẳm sâu,
để con dễ đón nhận nỗi khổ đau sâu thẳm nhất.

Lạy Chúa Giêsu,
xin làm cho con thật mạnh mẽ,
để không nỗi thất vọng nào
còn chạm được tới con.

Xin làm cho con thật đầy ắp,
để ngay cả một ước muốn nhỏ
cũng không còn có chỗ trong con.

Xin làm cho con thật lặng lẽ,
để con chỉ còn loan báo Chúa mà thôi.
 

Xin Chúa ngự trong con thật sống động,
để không phải là con,
mà là chính Ngài đang sống. (Tác giả Vô danh)

BÀI 2: HÃY SẴN SÀNG

Suy Niệm

Vào một ngày của tháng 10 năm 1992,
một số người Nam Hàn tụ tập ở các nhà thờ
để chờ ngày tận thế đến vào lúc nửa đêm.
Có người đã bán nhà và xin nghỉ việc,
nhưng dĩ nhiên đó không phải là ngày tận thế.

Kinh Thánh chẳng hề nói tận thế đến vào lúc nào.
Ðức Giêsu cũng bảo là Ngài không biết (Mt 24,36).
Chính vì thế Kitô hữu không tin những lời đồn thổi,
nhưng kiên tâm chờ đợi trong hy vọng.
Ðây không phải là thứ nơm nớp chờ đợi, khoanh tay,
nhưng là thứ chờ đợi bằng cách sống hết mình
để chuẩn bị cho trái đất đón Chúa trở lại.

Mùa Vọng là thời gian đặc biệt để tập sống chờ đợi.
Không phải chỉ là chờ mừng lễ Giáng sinh
mà nhất là chờ đợi Chúa đến kết thúc dòng lịch sử.
Ngày tận thế và ngày Chúa quang lâm là một.
Ðó là một ngày đáng sợ,
không phải vì những hiện tượng kinh khủng sẽ xảy ra,
nhưng vì là ngày Chúa đến phán xét kẻ sống người chết.
Ngày đó còn là một ngày hội vui:
ngày vui của Chúa Giêsu toàn thắng vinh quang,
ngày vui của những người được cứu chuộc,
ngày vui của cả vũ trụ vật chất được giải phóng.

Tận thế là cánh cửa mở ra trời mới đất mới.
Tất cả được đưa vào thế giới vĩnh cửu.
Có lẽ chúng ta hôm nay mong chờ Chúa đến
ít hơn các Kitô hữu thuở ban đầu.
Chẳng ai thích nghĩ đến ngày tận thế.
Tận thế bị coi là chuyện tương lai xa vời.
Cuộc sống hiện tại có vô số mối lo âu và hy vọng:
ăn uống, cưới vợ, lấy chồng, làm ruộng, xay bột.
Thật ra, nghĩ đến ngày tận thế
cũng cần như nghĩ đến cái chết của mình.
Cái chết dạy người ta biết cách sống.
Ngày tận thế dạy người ta biết cách xây dựng thế giới
trên nền tảng vĩnh cửu, trên những giá trị trường tồn.

Ðối với Kitô giáo, ngày tận thế không phải là ngày buồn,
ngày của hủy diệt và tang tóc,
nhưng là ngày của thân xác được sống lại,
ngày khai sinh một thế giới mới
không bị hận thù và chết chóc đe dọa.
Ngày tận thế là ngày Chúa quang lâm.
Chúng ta phải sẵn sàng ra đón Ngài.
Sẵn sàng là cùng với Chúa
xây dựng một trái đất đầy tình thương và công lý.
Sẵn sàng là biến trái đất thành con đường dẫn tới Thiên đàng.
Ngày Chúa quang lâm là một ngày bất ngờ,
nhưng nó sẽ ít bất ngờ
đối với những ai biết sẵn sàng chờ đợi.

 

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, 
nếu ngày mai Chúa quang lâm,
 
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.
 
Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang,
 
còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.
 
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt,
 
Chúa đâu muốn mất một người nào…
 
Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa
 
xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng,
 
vui tươi và hạnh phúc,
 
để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn
 
cho mọi người và cho cả vũ trụ.
 
Xin nuôi dưỡng nơi chúng con
 
niềm tin vững vàng
 
và niềm hy vọng nồng cháy,
 
để tất cả những gì chúng con làm
 
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nguồn: hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/11/gio-anh-em-khong-ngo-27-11-2022-chua-nhat-i-mua-vong-nam-a.webp 592 925 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-11-29 15:51:222025-11-29 15:51:22Giờ anh em không ngờ (30/11/2025 – Chúa nhật I mùa Vọng năm A)

Chúa nhật 34 Thường niên: Lễ Chúa Kitô vua vũ trụ

23 Tháng mười một, 2025/0 Comments/in Bài giảng, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
WHĐ (22/11/2025) – Lễ này được cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, qua đó nhấn mạnh rằng Đức Giêsu Kitô, Vua, là đích điểm của cuộc lữ hành trần thế của chúng ta.

NHỮNG NGÀY LỄ PHỤNG VỤ

Chúa nhật 34 Thường niên

LỄ CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ

Năm 325, Công đồng chung đầu tiên được triệu tập tại thành phố Nicea thuộc Tiểu Á. Trong Công đồng này, tín điều về thần tính của Đức Kitô được xác định để chống lại lạc giáo Ariô: “Đức Kitô là Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”. 1600 năm sau, vào năm 1925, Đức Giáo hoàng Piô XI công bố rằng cách hữu hiệu nhất để chiến thắng bất công là nhìn nhận vương quyền của Đức Kitô. “Bởi vì người ta được huấn giáo về các chân lý đức tin và được dẫn dắt để cảm nếm niềm vui nội tâm của tôn giáo một cách hiệu quả hơn nhờ việc cử hành hằng năm các mầu nhiệm thánh, hơn là nhờ những tuyên bố chính thức về giáo huấn của Giáo hội. Những tuyên bố ấy thường chỉ đến được với một số ít người và những người có học thức trong hàng ngũ tín hữu; còn các lễ thì đến được với tất cả; điều trước chỉ nói một lần, điều sau thì nói mỗi năm – và thực ra, là mãi mãi. Giáo huấn của Giáo hội chủ yếu tác động đến trí khôn; còn các lễ tác động đến cả trí khôn lẫn con tim, và có một hiệu quả cứu độ trên toàn thể bản tính con người” (Thông điệp Quas primas, 11 tháng 12 năm 1925).

Ngày ban đầu, lễ này được cử hành vào Chúa nhật trước lễ Các thánh (Chúa nhật cuối cùng của tháng Mười). Nhưng với cuộc cải tổ phụng vụ năm 1969, lễ này được chuyển sang Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, qua đó nhấn mạnh rằng Đức Giêsu Kitô, Vua, là đích điểm của cuộc lữ hành trần thế của chúng ta. Có những bản văn Kinh thánh riêng cho cả ba năm của chu kỳ Phụng vụ giúp chúng ta hiểu trọn vẹn về con người của Đức Giêsu.

NĂM A

NĂM B

NĂM C

NĂM A

“Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: ‘Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.’ Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?’ Đức Vua sẽ đáp lại rằng: ‘Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.’ Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: ‘Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.’ Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?’ Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: ‘Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.’ Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.” (Mt 25,31-46)

Giai đoạn sau cùng

Hôm nay, chúng ta cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, được gọi là lễ trọng Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ. Chúng ta đã bắt đầu tiến về đích điểm này từ Chúa nhật I mùa Vọng. Hôm nay, chúng ta đã đạt được. Xét rằng, năm Phụng vụ diễn tả đời sống của chính chúng ta ở dạng thu nhỏ, kinh nghiệm này nhắc chúng ta, và hơn nữa dạy chúng ta rằng chúng ta đang ở trên hành trình tiến tới cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu, Tân lang, khi Người đến như là Vua và là Chúa của sự sống và của lịch sử. Cuộc quang lâm mà chúng ta đang chờ đợi bây giờ là cuộc quang lâm thứ hai của Người. Cuộc quang lâm thứ nhất của Người là trong sự khiêm hạ của một Hài Nhi nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,7); cuộc quang lâm thứ hai sẽ xảy đến khi Người trở lại trong vinh quang vào thời sau hết, điều mà hôm nay chúng ta cử hành trong phụng vụ.

Nhưng cũng có một cuộc quang lâm trung gian – chúng ta đang sống điều đó hôm nay – trong đó Chúa Giêsu hiện diện nơi chúng ta nhờ Ân sủng chúng ta lãnh nhận trong các Bí tích và nơi khuôn mặt của mỗi “người bé mọn” mà Tin mừng nói đến (“Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3)). Chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa Giêsu nơi khuôn mặt của từng người anh chị em. Trên hành trình này, phụng vụ mang đến cho chúng ta một trường học của đời sống để dạy chúng ta nhận ra Chúa hiện diện trong đời sống hằng ngày và chuẩn bị cho chúng ta đón nhận cuộc quang lâm sau cùng của Người.

Tọa độ của đời sống

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến…” “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”. Chúc lành và lời nguyền rủa không phải là những quyết định, những “phán xét” của một vị Vua, Đấng chỉ xét đến những việc con người đã làm, nhưng là xét xem mỗi người đã chăm sóc người khác đến mức nào (x. Ga 4; Lc 16,19-31). Ở đầu Tin mừng (1,23), Thánh sử Mátthêu viết: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là ‘Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’”. Ở cuối Tin mừng, ngài viết: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Chính trong khung cảnh đó mà chúng ta phải đọc “Phán xét chung” mà phụng vụ hôm nay mời chúng ta chiêm niệm. Đức Giêsu, Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, thật sự “ở cùng chúng ta” cho đến tận thế. Người ở với chúng ta. Nhưng ở đâu? Làm sao chúng ta nhận ra Người đang hiện diện và hoạt động trong đời sống mình? Để gặp được Người, cần phải bước theo dấu chân của Người, dưỡng nuôi những tâm tình của Người – vốn nhiều khi không phải là tâm tình của chúng ta. Làm sao chúng ta không nhớ tới lúc Chúa Giêsu tâm sự với các môn đệ rằng cái chết trên thập giá đang chờ đợi Người, và Phêrô đã trách Người. Khi ấy, Chúa Giêsu kéo Phêrô ra một chỗ và nói: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23; x. Is 55,8). Chúng ta phải luôn nhớ rằng chúng ta ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14). Chính vì rất dễ bị lạc lối khỏi con đường ngay chính mà điều quan trọng là phải đưa mắt hướng về Đức Giêsu để không đánh mất Người (x. Dt 12,2). Người đang ở đây. Do đó, đời sống chúng ta không bị dẫn dắt bở sự ngẫu nhiên, nhưng được hướng dẫn bởi một Sự Hiện Diện là Sự Sống và chỉ cho chúng ta Con Đường.

Một lễ cho thấy con đường phải đi

Năm Phụng vụ là biểu tượng cho hành trình đời sống của chúng ta. Nó có khởi đầu và kết thúc trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, là Vua và là Chúa, trong Nước Trời mà chúng ta sẽ bước vào qua “chị chết” mở cửa hẹp cho chúng ta (Thánh Phanxicô). Vào đầu năm Phụng vụ (Chúa nhật I mùa Vọng), chúng ta đã được cho thấy trước đích điểm mà chúng ta tiến tới. Giống như chúng ta đã được trao cho các câu trả lời trước một năm cho những câu hỏi sẽ được hỏi trong kỳ thi! Nếu đó là kỳ thi, thì như thế là gian lận. Nhưng trong phụng vụ, đó lại là món quà của Chúa Giêsu, vị Thầy, vì điều đó chỉ cho chúng ta biết phải đi con đường nào (Chúa Giêsu là Đường), phải nuôi dưỡng những ý nghĩ nào (Chúa Giêsu là Sự Thật), và phải để cho niềm hy vọng nào thúc đẩy chúng ta (Chúa Giêsu là Sự Sống; x. Ga 14,6).

Tất cả là về tình yêu

Điều nổi bật trong các bản văn chúng ta nghe hôm nay là bài kiểm tra sau cùng lại xoay quanh tình yêu, quanh những điều cụ thể trong đời sống, bắt đầu từ những hành động đơn sơ và bình thường nhất: “Ta đói… Ta khát…” chứ không phải những hành động anh hùng, không phải những việc xa rời đời sống hằng ngày, cũng không phải những hành động ngoạn mục. Vẻ đẹp của Tin mừng hôm nay là ở chỗ Đức Giêsu không chỉ là Thiên Chúa ở cùng chúng ta cho đến tận thế, nhưng Người còn là Thiên Chúa ở trong chúng ta, bắt đầu từ những người bé mọn nhất: Người đi đến mức đồng nhất chính mình với những người túng thiếu, với từng “người bé mọn” trong Tin mừng, với những người bị bách hại (chẳng hạn: “Saolô, Saolô, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Cv 9,4). Như thế, mọi hành động yêu thương đều được thực hiện “với Đức Giêsu”, vì chúng ta ở trong sự hiện diện của Người; “như Đức Giêsu”, vì chúng ta đã học theo Người trong các Tin mừng; và thậm chí “cho Đức Giêsu”, bởi vì mỗi khi một hành động yêu thương được thực hiện, thì đó là hành động được làm “cho chính Người”.

Tình yêu trong đời sống hằng ngày

Điều đáng ngạc nhiên khi nhìn vào các hành động được ghi lại về Chúa Giêsu là không có một hành động tôn giáo hay thánh thiêng nào, theo đúng nghĩa đen của từ ngữ. Những gì chúng ta thấy là những hành động điển hình của người “giáo dân”: những gì Người làm khi đi trên đường, trong nhà người ta, bất cứ nơi nào Người có mặt, bất cứ nơi nào có nhu cầu. Thực ra, không còn gì là phàm tục nữa, cả bên trong lẫn bên ngoài đền thờ, vì tất cả thực tại đều được bao phủ bởi đền thờ của Thiên Chúa: không có gì là phàm tục và mọi sự đều là ‘thánh’, vì mọi sự đều hướng đến Đức Giêsu” (L. Giussani). Đây chính là kiểu phụng tự mà Thiên Chúa mong muốn. Điều này cũng được thấy trong một đoạn khác của Tin mừng theo Thánh Mátthêu: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Cuối cùng, nếu phụng tự mà chúng ta thực hiện trên bàn thờ không được dẫn dắt và đi kèm với phụng tự yêu thương anh chị em, thì sự thờ phượng của chúng ta sẽ chẳng có giá trị bao nhiêu.

NĂM B

Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giêsu và nói với Người: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?” Đức Giêsu đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” Ông Philatô trả lời: “Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?” Đức Giêsu trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” Ông Philatô liền hỏi: “Vậy ông là vua sao?” Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” (Ga 18,33b-37)

Giai đoạn sau cùng

Hôm nay, chúng ta cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, được gọi là lễ trọng Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ. Chúng ta đã bắt đầu tiến về đích điểm này từ Chúa nhật I mùa Vọng. Hôm nay, chúng ta đã đạt được. Xét rằng, năm Phụng vụ diễn tả đời sống của chính chúng ta ở dạng thu nhỏ, kinh nghiệm này nhắc chúng ta, và hơn nữa dạy chúng ta rằng chúng ta đang ở trên hành trình tiến tới cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu, Tân lang, khi Người đến như là Vua và là Chúa của sự sống và của lịch sử. Cuộc quang lâm mà chúng ta đang chờ đợi bây giờ là cuộc quang lâm thứ hai của Người. Cuộc quang lâm thứ nhất của Người là trong sự khiêm hạ của một Hài Nhi nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,7); cuộc quang lâm thứ hai sẽ xảy đến khi Người trở lại trong vinh quang vào thời sau hết, điều mà hôm nay chúng ta cử hành trong phụng vụ.

Nhưng cũng có một cuộc quang lâm trung gian – chúng ta đang sống điều đó hôm nay – trong đó Chúa Giêsu hiện diện nơi chúng ta nhờ Ân sủng chúng ta lãnh nhận trong các Bí tích và nơi khuôn mặt của mỗi “người bé mọn” mà Tin mừng nói đến (“Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3)). Chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa Giêsu nơi khuôn mặt của từng người anh chị em. Trên hành trình này, phụng vụ mang đến cho chúng ta một trường học của đời sống để dạy chúng ta nhận ra Chúa hiện diện trong đời sống hằng ngày và chuẩn bị cho chúng ta đón nhận cuộc quang lâm sau cùng của Người.

Một lễ cho thấy con đường phải đi

Năm Phụng vụ là biểu tượng cho hành trình đời sống của chúng ta. Nó có khởi đầu và kết thúc trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, là Vua và là Chúa, trong Nước Trời mà chúng ta sẽ bước vào qua “chị chết” mở cửa hẹp cho chúng ta (Thánh Phanxicô). Vào đầu năm Phụng vụ (Chúa nhật I mùa Vọng), chúng ta đã được cho thấy trước đích điểm mà chúng ta tiến tới. Giống như chúng ta đã được trao cho các câu trả lời trước một năm cho những câu hỏi sẽ được hỏi trong kỳ thi! Nếu đó là kỳ thi, thì như thế là gian lận. Nhưng trong phụng vụ, đó lại là món quà của Chúa Giêsu, vị Thầy, vì điều đó chỉ cho chúng ta biết phải đi con đường nào (Chúa Giêsu là Đường), phải nuôi dưỡng những ý nghĩ nào (Chúa Giêsu là Sự Thật), và phải để cho niềm hy vọng nào thúc đẩy chúng ta (Chúa Giêsu là Sự Sống; x. Ga 14,6).

Niềm vui của một giấc mơ

Trong Bài đọc I từ sách Ngôn sứ Đanien (7,13-14), chúng ta đọc về thị kiến về Con Người, Người sẽ sau cùng thay thế tất cả những kẻ trong lịch sử đã bắt người khác phục vụ mình thay vì tự mình phục vụ họ. Vì vậy, trong thị kiến này rõ ràng rằng sẽ có một kết thúc cho những ai đã lợi dụng người khác và trục lợi từ họ. Sẽ đến ngày một “Vua” công chính và nhân từ sẽ cầm quyền lịch sử trong tay.

Vị Vua được chờ đợi

Trong khung cảnh đầy hy vọng này, chúng ta có thể đọc đoạn Tin mừng mà phụng vụ hôm nay gợi ý – cuộc đối thoại giữa Philatô và Chúa Giêsu. Chúa Giêsu được trình bày như một Vua, nhưng triều đại của Người không thuộc về trần gian. Thực ra, Chúa Giêsu không tìm cách tự bảo vệ mình, vì cuộc sống của Người vượt lên trên sứ mạng Người lãnh nhận từ Chúa Cha. Đoạn văn nói một cách giản dị: Người là Vua và đã đến thế gian để tỏ bày vương quyền của Người, vốn được thể hiện qua việc làm chứng cho Chúa Cha, hiến dâng mạng sống trong phục vụ Chúa Cha, là Sự Thật của cuộc sống.

Vương quyền và sự thật

Chủ đề về “sự thật”, vốn quan trọng đối với Philatô, nhưng lại không quan trọng đến mức khiến ông ngăn chặn việc hành hình Chúa Giêsu, đòi hỏi một sự trung thành: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37). Đây là điểm mà Philatô dừng lại, không thể đón nhận sự thật, vì ông để mình bị thao túng bởi ý muốn của đám đông, và sau này sẽ phải trả giá rất cao về chính trị. Lựa chọn của Philatô cho thấy con người thật của ông và những gì thực sự đang hướng dẫn ông. Ngược lại, Chúa Giêsu tỏ bày đến cùng Đấng mà Người thuộc về và Đấng mà Người phục vụ. Điều này trao cho Người quyền tuyên bố rằng Người “là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống” (Ga 14,6).

Sự thật và dối trá

Lễ trọng hôm nay không chỉ là dịp để khám phá con người của Philatô, mà còn mở ra cơ hội cho mỗi chúng ta hiểu mình thực sự đang phục vụ ai. Vào cuối năm Phụng vụ này, điều quan trọng là nhận ra trái tim chúng ta hướng về ai hoặc về điều gì, vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó (x. Lc 12,34). Đây là một câu hỏi giúp chúng ta sắp xếp đời sống và tình cảm, để không đi theo nơi trái tim muốn dẫn dắt, nhưng để chúng ta đưa trái tim đến nơi chúng ta thực sự muốn đi. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi chúng ta chấp nhận Chúa Giêsu là Vua của mình, Đấng chỉ phục vụ sự thật với chính sự thật.

NĂM C

Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi!” Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Đây là vua người Do-thái.” Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Nhưng tên kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23,35-43)

Giai đoạn sau cùng

Hôm nay, chúng ta cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, được gọi là lễ trọng Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ. Chúng ta đã bắt đầu tiến về đích điểm này từ Chúa nhật I mùa Vọng. Hôm nay, chúng ta đã đạt được. Xét rằng, năm Phụng vụ diễn tả đời sống của chính chúng ta ở dạng thu nhỏ, kinh nghiệm này nhắc chúng ta, và hơn nữa dạy chúng ta rằng chúng ta đang ở trên hành trình tiến tới cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu, Tân lang, khi Người đến như là Vua và là Chúa của sự sống và của lịch sử. Cuộc quang lâm mà chúng ta đang chờ đợi bây giờ là cuộc quang lâm thứ hai của Người. Cuộc quang lâm thứ nhất của Người là trong sự khiêm hạ của một Hài Nhi nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,7); cuộc quang lâm thứ hai sẽ xảy đến khi Người trở lại trong vinh quang vào thời sau hết, điều mà hôm nay chúng ta cử hành trong phụng vụ.

Nhưng cũng có một cuộc quang lâm trung gian – chúng ta đang sống điều đó hôm nay – trong đó Chúa Giêsu hiện diện nơi chúng ta nhờ Ân sủng chúng ta lãnh nhận trong các Bí tích và nơi khuôn mặt của mỗi “người bé mọn” mà Tin mừng nói đến (“Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3)). Chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa Giêsu nơi khuôn mặt của từng người anh chị em. Trên hành trình này, phụng vụ mang đến cho chúng ta một trường học của đời sống để dạy chúng ta nhận ra Chúa hiện diện trong đời sống hằng ngày và chuẩn bị cho chúng ta đón nhận cuộc quang lâm sau cùng của Người.

Một lễ cho thấy con đường phải đi

Năm Phụng vụ là biểu tượng cho hành trình đời sống của chúng ta. Nó có khởi đầu và kết thúc trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, là Vua và là Chúa, trong Nước Trời mà chúng ta sẽ bước vào qua “chị chết” mở cửa hẹp cho chúng ta (Thánh Phanxicô). Vào đầu năm Phụng vụ (Chúa nhật I mùa Vọng), chúng ta đã được cho thấy trước đích điểm mà chúng ta tiến tới. Giống như chúng ta đã được trao cho các câu trả lời trước một năm cho những câu hỏi sẽ được hỏi trong kỳ thi! Nếu đó là kỳ thi, thì như thế là gian lận. Nhưng trong phụng vụ, đó lại là món quà của Chúa Giêsu, vị Thầy, vì điều đó chỉ cho chúng ta biết phải đi con đường nào (Chúa Giêsu là Đường), phải nuôi dưỡng những ý nghĩ nào (Chúa Giêsu là Sự Thật), và phải để cho niềm hy vọng nào thúc đẩy chúng ta (Chúa Giêsu là Sự Sống; x. Ga 14,6).

Vị Vua trên thập giá

Đoạn Tin mừng trình bày cho chúng ta thấy một Vua trên thập giá, giữa hai tên trộm. Nếu chúng ta nhớ lại việc Chúa Giêsu vào Giêrusalem trong tiếng ca hát và nhảy múa (x. Lc 19,28-40), chúng ta sẽ kinh ngạc khi thấy Người cuối cùng được trình diện trên “ngai của Thập giá”. Chúng ta thậm chí thấy một tên trộm chế nhạo vương quyền của Người – “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Trong khi đó, tên trộm còn lại nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”, qua đó nhận ra Chúa Giêsu là Vua. Sức mạnh vương quyền của Chúa Giêsu chính là nhờ điều mà “tên trộm lành” đã nhận ra: tình yêu – một tình yêu không giới hạn, nhân từ, phản chiếu uy quyền mà Chúa Giêsu đã được chào đón tại Giêrusalem: “Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dacaria 9,9).

Cho chính mình hay cho người khác?

Chúa Giêsu không đặt “chính mình” lên hàng đầu như những kẻ tố cáo Người chế nhạo muốn Người làm: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” (c. 35); cũng như các lính: “Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi!” (c. 37); và cuối cùng, tên trộm thứ nhất: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!”  (c. 39).

Chúa Giêsu không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ. Người không đến để được phục vụ bằng “sức mạnh của Người” nhưng để dâng hiến toàn bộ chính mình cho người khác nhằm cứu họ. Đây là vương quyền của Chúa Giêsu. Đây cũng là lý do tại sao Người không được hiểu. Và vương quyền của Người là vương quyền của tình yêu, tha thứ và phục vụ – đó là điều Chúa Giêsu đến để mang lại, và cũng là điều Ân sủng của Thập giá đã giành cho chúng ta.

Tâm Bùi chuyển ngữ
từ Vatican News

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/11/7b2d7a7b-96ab-4d85-93f1-5fc96166d8af.webp 608 1080 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-11-23 21:41:382025-11-25 21:46:02Chúa nhật 34 Thường niên: Lễ Chúa Kitô vua vũ trụ

Ngày 02 tháng 11: Lễ Cầu cho các tín hữu đã qua đời

1 Tháng mười một, 2025/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
WHĐ (01/11/2025) – Năm 1915, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XV cho phép các linh mục cử hành nhiều thánh lễ trong ngày này. Phụng vụ đề xuất nhiều thánh lễ trong ngày lễ Cầu cho các tín hữu đã qua đời, tất cả đều nhằm làm nổi bật mầu nhiệm Vượt qua, chiến thắng của Chúa Giêsu trước tội lỗi và sự chết.

NHỮNG NGÀY LỄ PHỤNG VỤ

02 tháng 11

LỄ CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI

Ngay từ thế kỷ II, đã có bằng chứng cho thấy các Kitô hữu cầu nguyện và cử hành thánh lễ cho những người thân đã qua đời. Ban đầu, họ cầu nguyện vào ngày thứ 3 sau khi mai táng, sau đó vào ngày giỗ. Về sau, ngày thứ 7 và thứ 30 sau khi qua đời trở thành những ngày được coi là thông lệ để cầu nguyện cho người đã khuất. Việc tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời vào ngày 02 tháng 11 trở thành chính thức vào năm 998, khi Viện phụ Odilo của Đan viện Cluny (994–1048) bắt buộc thực hiện trong tất cả các tu viện dưới thẩm quyền của ngài. Năm 1915, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XV cho phép các linh mục cử hành nhiều thánh lễ trong ngày này. Phụng vụ đề xuất nhiều thánh lễ trong ngày này, tất cả đều nhằm làm nổi bật mầu nhiệm Vượt qua, chiến thắng của Chúa Giêsu trước tội lỗi và sự chết.

Trích Tin mừng theo Thánh Gioan:

Đức Giêsu nói với đám đông: “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.” (Ga 6,37-40)

Ý Chúa

Thông điệp mang tính cách mạng là: bất kỳ ai “thấy người Con và tin vào người Con… tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết”. Chúng ta biết từ kinh nghiệm rằng thân xác sẽ mục nát. Nhưng thân xác không phải là phần duy nhất của con người! Con người là một nhân vị và là bạn đồng hành trong đối thoại với Thiên Chúa. Và Ngài sẽ không quên ai, Ngài sẽ không thất hứa, vì Thiên Chúa trung thành với lời hứa của Ngài. Thiên Chúa đã ghi mỗi người chúng ta trên lòng bàn tay Ngài và sẽ không quên bất cứ ai, vì Ngài là Cha. Đây là trái tim của thông điệp mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta. Chính vì sự thật này, Chúa Giêsu đã làm người, Ngài chịu chết trên thập giá và phục sinh để làm cho chúng ta được tham dự vào niềm vui phục sinh: “Lạy Chúa, chúng con xin Chúa thương ban cho các tín hữu ấy, và tất cả và tất cả mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã an nghỉ trong Ðức Kitô, được vào nơi hạnh phúc sáng láng và bình an”, chúng ta cầu nguyện trong Kinh nguyện Thánh Thể I của Thánh lễ, vào lúc chúng ta tưởng nhớ những người đã qua đời.

Cho phép mình được bất ngờ

Chúng ta sẽ sống lại là điều chắc chắn, Chúa Giêsu đã nói với chúng ta như vậy! Chúng ta không biết điều này sẽ xảy ra như thế nào. Chúng ta có thể suy đoán về nó bằng cách lắng nghe Tin mừng. Tuy nhiên, hy vọng vẫn còn đó: được bất ngờ bởi sự nhân từ của Thiên Chúa, bởi lòng thương xót của Ngài. Chúng ta có những thước đo riêng để đánh giá những gì xảy ra trong đời sống, nhưng chúng ta phải để Thiên Chúa có những thước đo của Ngài, vốn không phải của chúng ta. Chính điều này sẽ làm chúng ta bất ngờ khi vượt qua ngưỡng cửa thiên đàng.

Một bước đi trước

Cái chết không phải là sự hủy diệt, mà là sống theo một cách mới. Nó là nhận biết rằng những người đã đi trước chúng ta là “một bước đi trước” trên con đường đời. Họ đã đến đỉnh, trong khi chúng ta vẫn đang trên hành trình cuộc sống. Họ đã rẽ ngoặt, còn chúng ta vẫn đi trên con đường thẳng và hẹp. Do đó, cái chết không phải là kết thúc của mọi sự, mà là khởi đầu của một đời sống mới mà chúng ta đã và đang chuẩn bị từ lâu. Việc tưởng nhớ người đã qua đời, vì thế, không chỉ là “nhớ đến” những người không còn hiện diện, mà còn là một cây cầu chờ đón chúng ta ở cuối đời, dẫn chúng ta đến bờ bên kia mà tất cả chúng ta đều được định hướng tới. Đây là một sự trợ giúp để chúng ta không bị chìm ngập khi đời sống trở nên quá sức, quên rằng mọi sự đều trôi qua, chỉ có Thiên Chúa là tồn tại mãi mãi.

Chị chết

Sau khi đã được hòa giải với Thiên Chúa, với chính mình và với thụ tạo, Thánh Phanxicô Assisi, vào cuối đời, đã có thể hòa giải với cái chết đến mức Ngài gọi cái chết là “chị của tôi”. Điều này diễn tả rằng chính Ngài đã hiểu cái chết là một mầu nhiệm cần được đón nhận. Trái ngược với nền văn hóa ngày nay, vốn tìm mọi cách phủ nhận cái chết bằng ảo tưởng rằng con người là vĩnh cửu, Thánh Phanxicô dạy chúng ta biết nhìn vào cái chết, hiểu nó và coi nó như là một “người chị”, một phần của chính chúng ta. Dù sao đi nữa, cái chết cũng thực như chính sự hiện hữu của chúng ta. Đây là một bước tiến tới sự trung thực trong nhận thức, thậm chí còn hơn cả một chuyển động thiêng liêng. Nỗi sợ “chị chết” chắc chắn bắt nguồn từ nỗi sợ điều chưa biết, từ việc không biết điều gì nằm bên kia “tấm màn”. Điều đó gây ra một cảm giác bất an. Thêm vào đó, ta không thể chối cãi rằng ta sợ “gánh nặng” của những hành động mình đã làm khi cuối đời, lúc mà ai cũng trở thành người tin. Khi ấy, mỗi người sẽ tự hỏi mình đã sống thế nào. Kinh nghiệm này khiến ta cầu nguyện cho những người đã ra đi trước, như thể ta vẫn muốn giúp đỡ và che chở họ, đồng thời xin họ giúp đỡ và chuyển cầu cho ta.

Một điều chắc chắn: Chúng ta cần hiểu cái chết dưới ánh sáng của sự phục sinh của Chúa Giêsu. Chính từ đó mà sức mạnh và bình an của chúng ta phát sinh. Ngài đã mở ra Con đường dẫn qua Sự thật tới Sự sống. Chính Chúa Giêsu đã nhắc nhở chúng ta rằng con người được dựng nên cho sự sống đời đời. Một ngàn năm đối với Thiên Chúa chỉ như một ngày đã qua. Cả một đời người thật ngắn ngủi, chóng qua. Đời sống sẽ vô nghĩa nếu không hướng về một thực tại chân thật hơn. Như chính Chúa Giêsu đã nói: “Ai thấy người Con và tin vào người Con thì có sự sống đời đời.”

Và một điều cuối cùng. Chúa Giêsu đã làm người để giúp chúng ta sống “cho Thiên Chúa”. Ngài đã chịu chết, được mai táng và xuống ngục tổ tông để không ai cảm thấy mình bị loại trừ khỏi công trình cứu độ của Ngài. Chính Chúa Giêsu đã chọn “ở lại” trong mọi nơi, dù là nơi tối tăm nhất, để đồng hành với tôi trong mọi khoảnh khắc, để tôi không sợ hãi, không cảm thấy cô đơn hay bị bỏ rơi trong quyền lực của nỗi sợ. Không có nơi nào trong sự sống hay trong sự chết mà Ngài chưa từng “viếng thăm”. Chính điều này cho tôi sự xác tín rằng Ngài sẽ đón nhận tôi với vòng tay rộng mở trong bất cứ hoàn cảnh nào tôi “ngã vào”: Hôm nay khi tôi sa ngã trong tội lỗi, hay ngày mai khi tôi ngã vào cái chết, Ngài vẫn ở đó. Bởi vì Ngài đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, và đã dọn sẵn cho tôi một chỗ trong Nhà Cha của Ngài. Chừng ấy đủ cho tôi tiếp tục bước đi trong tín thác và hy vọng trên con đường đời. “Dầu qua lũng âm u” (Tv 23), Ngài vẫn ở đó. Ngài ở cùng tôi.

Lời nguyện

Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời, và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy.
Xin cho các linh hồn được nghỉ yên bình an. Amen.

Tâm Bùi chuyển ngữ
từ Vatican News

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/11/1dfae446-e181-4d62-985e-e87e4478ed3f.webp 608 1080 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-11-01 10:24:542025-11-01 10:24:54Ngày 02 tháng 11: Lễ Cầu cho các tín hữu đã qua đời

Sao Ngài bỏ rơi con? (02/11/2025 – Lễ Cầu cho các tín hữu đã qua đời)

1 Tháng mười một, 2025/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
Và anh ta thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

LỄ NHẤT

Bài Ðọc I: Rm 6, 3–9

“Chúng ta phải sống đời sống mới”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.

Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi. Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 22, 1–3a. 3b–4. 5. 6

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

Xướng: 1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

 

Alleluia: Ga 11, 25–26

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ”. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 51–59

“Thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân Do Thái rằng: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”. Vậy người Do Thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?”

Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Ðây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”.

Ðó là lời Chúa.

 

LỄ NHÌ

Bài Ðọc I: Kn 3, 1–9

“Chúa chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu”.

Trích sách Khôn Ngoan.

Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài. Ðối với con mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài đã chịu khổ hình, lòng cậy trông của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao: vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau. Các ngài sẽ xét xử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời. Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 24, 6–7bc. 17–18. 20–21

Ðáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa.

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa.

Ðáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa.

2) Xin cho lòng con được nhẹ bớt lo âu, và giải thoát con khỏi cảnh ưu tư phiền muộn. Xin Chúa coi cảnh lầm than khốn khổ của con, và tha thứ hết mọi điều tội lỗi.

Ðáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa.

3) Xin gìn giữ mạng sống con và giải thoát con, đừng để con bẽ bàng vì đã tìm nương tựa Chúa. Nguyện cho lòng con vô tội và trung thứ bảo vệ con, vì con trông cậy vào Ngài, thân lạy Chúa.

Ðáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa.

 

Alleluia: 2Tm 2, 11–12a

Alleluia, alleluia! – Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Kitô, thì chúng ta cùng sống với Người; nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 23, 33. 39–43

“Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi đã đến nơi gọi là Núi Sọ, chúng đóng đinh Người vào thập giá cùng với hai tên trộm cướp, một đứa bên hữu một đứa bên tả Người. Bấy giờ Chúa Giêsu than thở rằng: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. Rồi chúng rút thăm mà chia nhau áo Người. Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục người rằng: “Nếu ông là Ðấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”.

Ðối lại, tên kia mắng nó rằng: “Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao? Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu?” Và anh ta thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

Ðó là lời Chúa.

 

Suy niệm:

Ðoạn Tin Mừng trên đây kể lại cho ta

cuộc đời Ðức Giêsu vào những giây phút cuối.

Ngài bị liệt đồng hàng với phường trộm cướp

Và ngay cả tên “trộm dữ” cũng không tin Ngài là Con Thiên Chúa

Nó đã mỉa mai: “Nếu ông là Ðấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”

Thế nhưng, niềm tin không loại trừ ai

Mang tiếng là phường trộm cướp, nhưng tên “trộm lành” biết phân định:

Ai mới thật sự là kẻ cướp, ai mới thật sự là người công chính, vô tội.

Thậm chí hắn còn nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa.

Và hắn đã không bỏ lỡ cơ hội: Xin được một chỗ trú ngụ trong Nước của Ngài.

 

Tháng 11 được dành để nhớ đến những người đã khuất.

Ðã có thời người ta cho rằng theo đạo là bất hiếu,

vì không lo giỗ chạp, cúng vái, nhang đèn…

Nhưng trong niềm tin của Kitô giáo,

điều người chết cần không phải là đồ ăn hay vàng mã,

mà là cầu nguyện, hy sinh, việc lành và thánh lễ.

 

Ngọn lửa luyện ngục tuy gây nhiều đau đớn không nguôi,

nhưng có sức tẩy luyện, biến đổi và thánh hóa.

Có thể nói các linh hồn ở luyện ngục có phúc hơn ta,

vì họ biết chắc chắn sớm muộn gì cũng vào thiên đàng.

Chính vì thế họ vui lòng để cho tình yêu Chúa thanh lọc,

và càng lúc càng trở nên hoàn hảo hơn để đến gần bên Chúa.

 

Chúng ta cần sống mầu nhiệm các thánh thông công.

Các thánh trên trời chuyển cầu cho Hội Thánh dưới thế.

Hội Thánh dưới thế chuyển cầu cho các linh hồn đau khổ.

Tất cả liên đới với nhau như các chi thể của một thân thể.

Trong tháng này Hội Thánh mời chúng ta đi viếng nghĩa trang

để cầu nguyện cho các người thân yêu đã lìa đời.

Những hàng mộ nói với ta về cái chết không sao tránh được.

Dù già hay trẻ, dù khỏe hay đau, dù giàu hay nghèo,

nhưng cuối cùng cái chết vẫn là điểm hẹn.

Cái chết được chia đều cho mọi người.

 

Nghĩa trang có phải là nơi an nghỉ cuối cùng không?

Con người còn gì khi thân xác nát tan trong lòng đất?

Nhờ Ðức Giêsu phục sinh mà mầu nhiệm cái chết được vén mở.

Cái chết chỉ là nhịp cầu đưa ta vào cõi sống.

Con người sống là để chết, và chết là để sống mãi,

sống một cuộc sống hạnh phúc tuyệt vời hơn nhiều.

Cùng với thánh Phanxicô, xin gọi cái chết là chị – Chị Chết.

Ước gì người Kitô hữu học được nghệ thuật sống

nhờ biết đón lấy cái chết trong niềm hy vọng tin yêu.

 

Cầu nguyện: 

Lạy Chúa Giêsu,

nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này

thì thật là phiền toái.

Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn

vì phải chia tay với những người thân yêu,

vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.

Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết

như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý

nhưng như một hành trình

trở về nguồn cội yêu thương.

 

Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá,

Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui,

và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác,

để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống viên mãn.

Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.

Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi,

chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.

Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.

Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành

đang trên đường về quê hương vĩnh cửu.

Sống một đời và chết một lần.

 

Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.

Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống. Amen.

 

LỄ BA

Bài Ðọc I: Rm 5, 5–11

“Chúng ta đã nên công chính trong Máu của Người, và nhờ Người chúng ta được cứu khỏi cơn thịnh nộ”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tình yêu của Thiên Chúa tuôn đổ trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần đã ban cho chúng ta. Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, họa chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.

Vậy phương chi bây giờ, chúng ta đã nên công chính trong máu của Người, và nhờ Người chúng ta sẽ được cứu khỏi cơn thịnh nộ. Bởi chưng nếu khi chúng ta còn là thù nghịch, mà chúng ta đã được giao hoà cùng Thiên Chúa nhờ cái chết của Con Ngài, thì huống chi khi đã được giao hoà, ắt chúng ta sẽ được cứu độ trong sự sống của chính Chúa Kitô. Và không những thế, chúng ta còn được vinh hiển trong Thiên Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người mà bây giờ chúng ta được lãnh ơn giao hoà.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 26, 1. 4. 7 và 8b và 9a. 13–14

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

Xướng: 1) Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người.

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

3) Lạy Chúa, xin nghe con kêu cầu, xin thương xót và nhậm lời con. Và lạy Chúa, con tìm ra mắt Chúa. Xin Chúa đừng ẩn mặt xa con.

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

4) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy trông đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và trông đợi Chúa.

Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi.

 

Alleluia: Ga 6,39

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ý của Cha là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết Ta sẽ cho nó sống lại”. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 17, 24–26

“Con muốn rằng Con ở đâu, chúng cũng ở đấy với Con”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, (Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng:) “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thành thế gian. Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con biết Cha, và những người này cũng biết rằng Cha đã sai Con. Con đã tỏ cho chúng biết danh Cha, và Con sẽ còn tỏ cho chúng nữa, để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa”.

Ðó là lời Chúa.

(Hoặc) Phúc Âm: Mc 15, 33-39

Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: “Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Êlia”. Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Ðể xem ông Êlia có đến đem hắn xuống không.” Ðức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trướng trong Ðền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.”

Ðó là lời Chúa.

 

Suy niệm:

Ðoạn Tin Mừng trên đây kể lại cho ta

cuộc đời Ðức Giêsu vào những giây phút cuối.

Ngài đã đón nhận cái chết một cách không dễ dàng

sau nhiều giờ hấp hối trên thập giá.

Ðau đớn đến tột cùng, nhục nhã và cô đơn kinh khủng.

Có vẻ lúc đó Cha lại vắng mặt và làm thinh.

“Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”

Ðức Giêsu có cảm tưởng như Cha bỏ rơi mình

vào chính lúc Ngài vâng phục Cha, chấp nhận cái chết.

Chúng ta cần nghe được tiếng kêu xé ruột của Ðức Giêsu.

Ngài kêu bằng tất cả sức lực còn lại của mình.

Ngài kêu một tiếng lớn, rồi tắt lịm.

Chúng ta thích thấy Ðức Giêsu chết bình an hơn,

chết anh hùng hơn và chết lành hơn.

Nhưng Ðấng vô tội, chết thay cho cả nhân loại,

đã chẳng được hưởng chút êm đềm nào từ Thiên Chúa.

Lời cuối của Ngài là một tiếng gọi: Lạy Thiên Chúa của con,

một câu hỏi tại sao mà Ngài không rõ câu trả lời.

Ðức Giêsu đã nhắm mắt trong niềm tin trần trụi.

 

Tháng 11 được dành để nhớ đến những người đã khuất.

Ðã có thời người ta cho rằng theo đạo là bất hiếu,

vì không lo giỗ chạp, cúng vái, nhang đèn…

Nhưng trong niềm tin của Kitô giáo,

điều người chết cần không phải là đồ ăn hay vàng mã,

mà là cầu nguyện, hy sinh, việc lành và thánh lễ.

Ngọn lửa luyện ngục tuy gây nhiều đau đớn không nguôi,

nhưng có sức tẩy luyện, biến đổi và thánh hóa.

Có thể nói các linh hồn ở luyện ngục có phúc hơn ta,

vì họ biết chắc chắn sớm muộn gì cũng vào thiên đàng.

Chính vì thế họ vui lòng để cho tình yêu Chúa thanh lọc,

và càng lúc càng trở nên hoàn hảo hơn để đến gần bên Chúa.

Chúng ta cần sống mầu nhiệm các thánh thông công.

Các thánh trên trời chuyển cầu cho Hội Thánh dưới thế.

Hội Thánh dưới thế chuyển cầu cho các linh hồn đau khổ.

Tất cả liên đới với nhau như các chi thể của một thân thể.

 

Trong tháng này Hội Thánh mời chúng ta đi viếng nghĩa trang

để cầu nguyện cho các người thân yêu đã lìa đời.

Những hàng mộ nói với ta về cái chết không sao tránh được.

Dù già hay trẻ, dù khỏe hay đau, dù giàu hay nghèo,

nhưng cuối cùng cái chết vẫn là điểm hẹn.

Cái chết được chia đều cho mọi người.

Nghĩa trang có phải là nơi an nghỉ cuối cùng không?

Con người còn gì khi thân xác nát tan trong lòng đất?

Nhờ Ðức Giêsu phục sinh mà mầu nhiệm cái chết được vén mở.

Cái chết chỉ là nhịp cầu đưa ta vào cõi sống.

Con người sống là để chết, và chết là để sống mãi,

sống một cuộc sống hạnh phúc tuyệt vời hơn nhiều.

Cùng với thánh Phanxicô, xin gọi cái chết là chị – Chị Chết.

Ước gì người Kitô hữu học được nghệ thuật sống

nhờ biết đón lấy cái chết trong niềm hy vọng tin yêu.

 

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,

nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này

thì thật là phiền toái.

Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn

vì phải chia tay với những người thân yêu,

vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.

Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết

như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý

nhưng như một hành trình

trở về nguồn cội yêu thương.

 

Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá,

Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui,

và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác,

để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống viên mãn.

Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.

Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi,

chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.

Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.

Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành

đang trên đường về quê hương vĩnh cửu.

Sống một đời và chết một lần.

Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.

Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nguồn: hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/11/rv26338_articolo.webp 236 384 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-11-01 10:22:292025-11-01 10:22:29Sao Ngài bỏ rơi con? (02/11/2025 – Lễ Cầu cho các tín hữu đã qua đời)

Phúc thay (01/11/2025 – lễ Các thánh nam nữ)

31 Tháng 10, 2025/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
“Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời”

Bài Ðọc I: Kh 7, 2–4, 9–14

“Tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng”.

Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.

Tôi là Gioan đã nhìn thấy một thiên thần khác từ phía mặt trời mọc đi lên, tay cầm ấn Thiên Chúa hằng sống, và lớn tiếng kêu gọi bốn thiên thần được lệnh tàn phá đất và biển mà rằng: “Chớ có tàn phá đất, biển và cây cối trước khi ta đóng ấn trên trán những tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta”. Và tôi đã nghe biết số người được đóng ấn là một trăm bốn mươi bốn ngàn người, thuộc mọi chi tộc Israel.

Sau đó, tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: “Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Ðấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên”.

Rồi tất cả các thiên thần đến đứng chung quanh ngai vàng, và các trưởng lão cùng bốn con vật sấp mình xuống trước ngai mà thờ lạy Thiên Chúa rằng: “Amen! Chúc tụng, vinh hiển, khôn ngoan, cảm tạ, vinh dự, uy quyền và dũng lực cho Thiên Chúa chúng tôi muôn đời. Amen”. Rồi một trong các trưởng lão lên tiếng hỏi rằng: “Những người mặc áo trắng này là ai vậy? Và họ từ đâu mà đến?” Tôi đáp lại rằng: “Thưa ngài, hẳn ngài đã rõ”. Và người bảo tôi rằng: “Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 23, 1–2. 3–4ab. 5–6

Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa.

Xướng: 1) Trái đất và muôn loài trên mặt đất là của Chúa, hoàn cầu và muôn vật trên địa cầu. Vì chưng Chúa đã xây dựng nền móng trái đất trên biển cả, và Người đã tạo dựng nó trên các sông ngòi.

Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa.

2) Ai sẽ được trèo lên núi Chúa? Ai sẽ được dừng bước trong thánh điện? Ðó là người có bàn tay vô tội và tâm hồn trong sạch, không để lòng xuôi theo sự giả trá.

Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa.

3) Người đó sẽ hưởng phúc lành của Chúa và lượng từ bi của Chúa, Ðấng giải thoát họ. Ðấy là dòng dõi của những kẻ tìm Người, những kẻ tìm tôn nhan Thiên Chúa của Giacóp.

Ðáp: Lạy Chúa, này là dòng dõi của những kẻ tìm Chúa.

 

Bài Ðọc II: 1Ga 3, 1–3

“Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, các con hãy coi: Tình yêu của Thiên Chúa Cha đối với chúng ta thế nào, khiến chúng ta được gọi là con Thiên Chúa và thực sự là thế. Vì đó mà thế gian không nhận biết chúng ta, vì thế gian không biết Người. Các con thân mến, hiện nay, chúng ta là con Thiên Chúa, còn chúng ta sẽ ra sao thì vẫn chưa được tỏ ra. Chúng ta biết rằng: khi được tỏ ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy. Và bất cứ ai đặt hy vọng nơi Người, thì tự thánh hoá mình cũng như Người là Ðấng Thánh.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Mc 11,28

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các con”. – Alleluia.

Phúc Âm: Mt 5, 1–12a

“Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:

“Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời”.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm 1: PHÚC THAY

Trong Tông huấn về ơn gọi nên thánh Gaudete et Exsultate

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về các Mối Phúc (số 63-94).

Ngài viết: “Từ ‘hạnh phúc’ hay ‘được chúc phúc’

trở thành từ đồng nghĩa với “thánh thiện” (số 64).

Người được chúc phúc là người thánh thiện trước mặt Chúa.

Vào lễ Các Thánh, ta luôn được nghe đọc về các Mối Phúc.

Các Mối Phúc là những con đường nên thánh.

Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa,

đã sống tận căn từng Mối Phúc này trong đời Ngài.

Con Thiên Chúa đã thực sự sống đời nghèo khó.

Khi xuống thế làm người, Ngài được quấn tã như bao trẻ thơ,

lao động như một người thợ, và đi rao giảng không chỗ tựa đầu.

Ngài hoàn toàn tay trắng khi bị treo trên thập giá.

Đức Giêsu đã sống tinh thần nghèo khó suốt đời,

khi phó thác đời mình cho Cha, và chỉ nương tựa vào Cha.

Cuộc đời Ngài có những thử thách khiến Ngài phải sầu khổ.

Nỗi đau lớn của Ngài là sự khép lòng của dân trước ơn cứu độ.

Đức Giêsu đã mời người ta sống hiền lành như Ngài (Mt 11,29)

Ngài hiền lành ngồi trên lưng lừa đi vào chỗ chết (Mt 21,5),

và lặng lẽ khi bị tố cáo trước tòa án đạo đời (Mt 27,12).

Đức Giêsu đói khát sự công chính của Thiên Chúa,

khi luôn khát mong làm theo ý Cha, vâng phục cho đến chết.

Ngài là Con yêu dấu, khiến Cha hài lòng (Mt 3,17;17,5).

Đức Giêsu là hiện thân của lòng Chúa Cha thương xót nhân loại.

Tinh thương của Ngài vượt trên mọi bức tường cách ngăn,

để đến với những người bị xã hội ruồng rẫy, và tôn giáo xa lánh.

Tình thương ấy xin tha cho cả kẻ đóng đinh Ngài (Lc 23,34).

Đức Giêsu có trái tim trong sạch, trái tim không quy về mình,

nhưng mở ra để dành trọn cho Cha và cho con người.

Ngài đem lại bình an và hòa giải giữa con người với Thiên Chúa,

giữa các tín hữu với nhau, và giữa Hội Thánh với thế giới.

Nhờ Máu Ngài đã đổ ra trên thập tự, đất trời giao hòa (Cl 1,20).

Đức Giêsu đã sống triệt để mối phúc thứ tám và thứ chín.

Bị bách hại và vu khống, Ngài đã trở thành vị tử đạo tuyệt vời.

Đức Giêsu mời chúng ta sống các Mối Phúc như Ngài đã sống.

Nhưng không phải chỉ có tám hay chín Mối Phúc trong Tin Mừng.

Các mối phúc nằm giữa bao cảnh ngộ mỗi ngày của cuộc sống.

Mẹ Maria được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ (Lc 1,42)

và còn có phúc vì đã tin Chúa sẽ thực hiện điều Ngài nói (Lc 1,45).

“Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Lc 11,27).

“Nếu anh em thực hành, thì phúc cho anh em !” (Ga 13,17).

“Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách…”(Gc 1,12).

“Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

“Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20,29).

Mỗi người chúng ta đều có cảm nghiệm sâu về hạnh phúc

khi quên mình, bỏ mình, để người khác được hạnh phúc,

khi không coi mình là trung tâm, khi vượt qua cái tôi tính toán.

Nhờ đó chúng ta tiến dần đến sự thánh thiện Chúa mời gọi.

Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,16),

nên con người mang nơi mình khả năng nên thánh.

Thiên Chúa ba lần thánh, mời chúng ta: “Hãy nên thánh,

vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các người, Ta là thánh” (Lv 19,2).

Đức Giêsu là mẫu mực tuyệt vời của Thiên Chúa siêu việt.

Nhờ nên một với Con mà ta nên thánh giống Cha trên trời.

Khi mừng lễ các Thánh Nam Nữ trên trời,

chúng ta nhớ mình được kêu gọi nên thánh (Rm 1,7; 1 Cr 1,2),

được kêu gọi sống các mối phúc của Bài Giảng trên Núi.

Như thế là được nếm hạnh phúc của trời cao ngay từ đời này.

Với cuộc đời rất riêng của mình,

mỗi người còn phải tìm ra và sống những mối phúc rất riêng,

từ đó đi vào con đường rất riêng để nên thánh.

Cầu nguyện:

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,

Nhờ thế Người là tất cả của tôi.

Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì,

Nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi nơi,

Đến với Người trong mọi sự,

Và dâng Người tình yêu trong mọi lúc.

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,

Nhờ thế tôi không bao giờ muốn tránh gặp Người.

Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng còn gì,

Nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người

Và thực hiện ý Người trong suốt đời tôi. Amen.

(Tagore)

Suy niệm 2: NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ

Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh,

hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng.

Các thánh không phải chỉ là những vị được tôn phong,

mà là tất cả những ai đang hưởng hạnh phúc trên trời.

Các thánh thật khác nhau về nhiều mặt:

giới tính, tuổi tác, màu da, tiếng nói, nghề nghiệp,

hoàn cảnh, thời đại, bậc sống, khả năng, tính tình…

Có người không biết viết như thánh nữ Catarina Siêna.

Có người đậu tiến sĩ triết hạng tối ưu như thánh Edith Stein.

Có người làm bao phép lạ phi thường như ngôn sứ Êlia.

Có người sống âm thầm như chị Têrêsa nhỏ.

Nói chung chẳng gì có thể ngăn cản chúng ta nên thánh,

vì Thiên Chúa muốn mọi người nên thánh chẳng trừ ai.

Các mối phúc là con đường nên thánh.

Con đường này chính Ðức Kitô đã đi và mời ta cùng đi.

Ngài mời ta có tâm hồn nghèo khó, hiền lành,

nghĩa là hoàn toàn tín thác vào một mình Thiên Chúa,

có lòng khát khao sự công chính, chỉ mong làm trọn ý Ngài.

Trong tương quan với tha nhân, Ðức Kitô mời ta

có lòng thương xót, biết đau nỗi đau của người khác,

có tâm hồn trong sạch, nghĩa là sống ngay thẳng, chân thành,

có tinh thần xây dựng hòa bình và công bằng xã hội,

nghĩa là chăm lo phát triển toàn diện từng người và mọi người.

Sống các mối phúc trên là chấp nhận mối phúc bị bách hại.

Mỗi vị thánh đều sống nổi bật trong một số mối phúc.

Họ đã nếm phần nào hạnh phúc từ đời này

trước khi hưởng hạnh phúc trọn vẹn bền vững trên trời.

Chúng ta thường nghĩ nên thánh là chuyện cao siêu

dành cho một thiểu số hết sức đặc biệt.

Thật ra mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh.

“Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời.”

Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn mọi sự thánh thiện.

Ngài mời chúng ta chia sẻ sự thánh thiện của Ngài.

Nên thánh là đáp trả lời mời đó.

Khi chiêm ngắm các thánh, ta có thể hiểu nên thánh là gì.

Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống,

là ra khỏi cái tôi hẹp hòi của mình

để sống hết tình cho Thiên Chúa và tha nhân.

Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa

và trung thành đáp lại trong giây phút hiện tại.

Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa tặng trao,

là để cho Chúa yêu mình, nắm tay mình,

dắt mình vào thế giới riêng tư của Chúa.

Nên thánh là thuộc trọn về Chúa và về anh em,

là để Chúa dần dần chiếm lấy mọi chỗ của đời mình.

Chúa mời tôi nên thánh với con người và hoàn cảnh riêng.

với sa ngã của quá khứ và mỏng giòn của hiện tại,

với cái dằm vẫn thường xuyên làm tôi nhức nhối.

Chúa muốn tôi nên thánh với mặt mạnh, mặt yếu của tôi.

Ước gì đời tôi vén mở một nét nào đó của Chúa.

Cầu nguyện:

Lạy Cha,

con phó mặc con cho Cha,

xin dùng con tùy sở thích Cha.

Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.

Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.

Miễn là ý Cha thực hiện nơi con

và nơi mọi loài Cha tạo dựng,

thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.

Con trao linh hồn con về tay Cha.

Con dâng linh hồn con cho Cha,

lạy Chúa Trời của con,

với tất cả tình yêu của lòng con,

Vì con yêu mến Cha,

vì lòng yêu mến

thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,

thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,

không so đo,

với một lòng tin cậy vô biên,

vì Cha là Cha của con. Amen.

(Chân phước Charles de Foucauld)

Nguồn:hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/10/all-sainsts-1-stained-glass.webp 625 1000 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-10-31 09:47:242025-10-31 09:47:24Phúc thay (01/11/2025 – lễ Các thánh nam nữ)

Từ Halloween đến Lễ Các Thánh

29 Tháng 10, 2025/0 Comments/in Bài giảng, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ
Có thể nói từ Halloween đến Lễ Các Thánh là hành trình biến đổi: từ sự sợ hãi đến hy vọng, từ giả trang đến chân thật, từ bóng tối đến ánh sáng.

WHĐ (27/10/2025) – Chúng ta đang đứng trước một hành trình đi từ nỗi sợ hãi đến niềm hy vọng lớn lao. Số là vào ngày lễ hội Halloween dịp cuối tháng Mười, khi những con phố phương Tây và ngày càng nhiều nơi ở Việt Nam đang được trang hoàng rực rỡ ánh đèn hình quả bí ngô và bầu không khí cũng tràn ngập tiếng cười của trẻ nhỏ trong những bộ đồ hóa trang với hình thù quái dị, ma mị nữa, nhiều người lại đặt ra câu hỏi: Tại sao người Kitô hữu lại nói về “Lễ Các Thánh” ngay sau đó? Có phải hai ngày lễ này hoàn toàn trái ngược nhau? Nghĩa là một bên thì tôn vinh ma quỷ (Halloween), một bên thì tôn vinh Các Thánh (All Saints’ Day)? Hay phải chăng, đằng sau những chiếc mặt nạ ma quái, vẫn còn ẩn chứa một câu chuyện thiêng liêng về sự chết, sự sống và niềm hy vọng vĩnh hằng?

1. Halloween khoác lên mình nỗi sợ

Halloween và Lễ Các Thánh không tách biệt hoàn toàn như nhiều người nghĩ. Một bên phản ánh nỗi sợ và sự bí ẩn của cái chết, còn bên kia lại nói về ánh sáng của sự sống đời đời và niềm hy vọng phục sinh. Hai lễ hội này có thể nói là hành trình đi từ nỗi sợ đến niềm hy vọng, từ bóng tối của thế gian đến ánh sáng của Thiên Chúa.

Thực ra Halloween viết tắt từ “All Hallows’ Eve”, nghĩa là Đêm vọng Lễ Các Thánh. Đây là ý nghĩa ban đầu của ngày lễ. Khi xưa, người Kitô giáo ở Âu châu mừng Lễ Các Thánh vào ngày 01 tháng 11. Do đó, tối ngày 31 tháng 10 được gọi là đêm vọng. Trong phụng vụ cổ, các Kitô hữu canh thức, cầu nguyện, tưởng nhớ những người đã ra đi trước khi cử hành ngày lễ trọng kính toàn thể Các Thánh vào sáng hôm sau. Thế nhưng, qua dòng thời gian, ý nghĩa tôn giáo dần bị mai một. Thay vào đó, phong tục dân gian lên ngôi, khiến Halloween trở thành một ngày hội mang màu sắc huyền bí, ma quái. Ngày nay nhiều người đang trở lại ý nghĩa ban đầu của ngày lễ này, ít là nhiều nơi ở châu Âu, họ không ùa theo Halloween ma quái nữa.

Nguồn gốc dân gian của Halloween còn gắn liền với lễ Samhain của người Celt. Đây là một tộc người ở vùng Ireland và Anh cổ đại. Họ tin rằng vào đêm cuối tháng Mười, ranh giới giữa thế giới người sống và người chết bị xóa nhòa. Trong thời gian này, các linh hồn có thể trở lại trần gian. Để xua đuổi ma quỷ, người ta đốt lửa, hóa trang, và treo đèn lồng bằng quả bí ngô khắc hình ma quái. Khi Kitô giáo loan truyền đến vùng đất này (Anh thế kỷ I–II, Ireland thế kỷ V), Hội thánh không hủy bỏ hoàn toàn tập tục ấy. Cũng như nhiều nơi trên thế giới, Hội thánh muốn “rửa tội” cho nghi thức này, biến nó thành dịp để nhớ đến những người đã khuất trong ánh sáng đức tin. Tiếc là sau nhiều thế kỷ, khi xã hội dần bị thế tục hóa, Halloween theo đó cũng dần bị thương mại hóa và trở thành một lễ hội tiêu thụ, đầy yếu tố giải trí và kinh dị.

Ngày nay, nhiều người coi Halloween chỉ là dịp vui chơi, hóa trang và flex. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, ta thấy trong những hình ảnh đó vẫn phảng phất nỗi ám ảnh của con người trước cái chết. Khi hóa trang thành ma quái, một cách nào đó, người ta đang diễn tả sự bất an về thân phận mỏng manh của con người. Ta sợ cái chết, sợ bóng tối. Đây là nỗi sợ hiện sinh ở mọi thời. Nói cách khác, Halloween là tấm gương phản chiếu nỗi sợ sâu kín nhất của nhân loại, nhưng được khoác lên lớp vỏ giải trí.

Nếu ta chỉ dừng lại ở trò hóa trang này thì thật đáng tiếc vì sẽ để lọt mất cơ hội vượt qua nỗi sợ bằng đức tin. Đêm Halloween, nếu chỉ dừng lại ở ma quỷ, xác sống,… thì con người sẽ ở mãi trong bóng tối, nhưng nếu ta hiểu đúng ý nghĩa của “All Hallows’ Eve”, đêm chuẩn bị để kính các thánh, thì đó chính là đêm chuyển mình từ sợ hãi sang hy vọng, từ tăm tối của thế gian sang ánh sáng của Nước Trời.

2. Lễ Các Thánh tỏa sáng niềm hy vọng

Ngày 01 tháng 11, Hội thánh mừng lễ trọng kính toàn thể Các Thánh. Các ngài không chỉ là những vị đã được tuyên thánh chính thức, mà còn là tất cả những người đã sống thánh thiện. Họ có thể là cha mẹ, ông bà, tổ tiên của chúng ta. Chỉ có Thiên Chúa biết tên của họ và biết họ đã sống tốt như thế nào.

Trong bài Tin mừng ngày lễ này (Mt 5,1–12), Chúa Giêsu công bố tám mối Phúc thật, như bản Hiến chương của Nước Trời. Chính những người nghèo khó, hiền lành, khát khao công lý, chịu bách hại vì đức tin mới là những người hạnh phúc thật. Thánh thiện chẳng phải là lúc chúng ta dám đi ngược lại với những tiêu chuẩn của thế gian sao? Thay vì chạy theo danh vọng, tiền bạc hay quyền lực, các thánh đã yêu mến và tín trung nơi Thiên Chúa. Vì thế, các ngài được chúc phúc và đáng hưởng hạnh phúc Nước Trời.

Từ cái nhìn đức tin, Lễ Các Thánh cho thấy con người được tạo dựng không phải để chết, nhưng để sống mãi trong Thiên Chúa. Thiên Chúa là Sự Sống. Chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Vì thế, chính chúng ta cũng được hưởng sự sống vĩnh hằng ấy. Ở cùng một bình diện, nếu Halloween diễn tả nỗi sợ cái chết, thì Lễ Các Thánh lại mạc khải chiến thắng của sự sống. Đúng như lời Kinh thánh: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người” (2 Tm 2,11). Các Thánh là lời chứng rõ ràng cho thấy rằng sự chết không có tiếng nói cuối cùng, bởi đức ái mạnh hơn sự chết (x. Dc 8,6). Các Thánh đã sống như Đức Kitô, chết với Người và được sống lại trong Người.

Khi chiêm ngắm các Thánh, ta nhận ra ơn gọi nên thánh không phải là đặc ân của số ít mà là tiếng mời gọi của mọi Kitô hữu. Mọi người đều có thể nên thánh. Đức Phanxicô trong Tông huấn Gaudete et Exsultate (2018) nhắn nhủ rằng: “Thiên Chúa muốn chúng ta nên thánh chứ không muốn chúng ta bằng lòng với một cuộc sống nhạt nhẽo và tầm thường” (số 1). Thú vị là mỗi người đều có “một cách thế nên thánh” riêng. Chẳng hạn, số 14 trong Tông huấn này, Đức Phanxicô cho rằng nên thánh có thể là khi cha mẹ kiên nhẫn, người trẻ trung thực, người thầy tận tâm, hay người lao động âm thầm làm việc vì tình yêu… Sự thánh thiện không xa vời nhưng luôn hiện diện trong đời sống thường ngày.

Vì thế, Lễ Các Thánh là ngày của niềm hy vọng. Chúng ta có quyền tin rằng giống như các Thánh, ta cũng được mời gọi nên thánh. Dù yếu đuối, tội lỗi, ta vẫn được Chúa mời gọi ta chạy đến với Ngài để được Ngài ban ơn và thánh hóa. Niềm vui của ngày lễ không chỉ là tôn vinh các Thánh, mà còn là lời nhắc rằng Thiên Chúa đang chờ và mong ước biến đổi ta mỗi ngày. Nên thánh như thế cũng chính là niềm hy vọng của chúng ta.

3. Từ nỗi sợ đến niềm tin

Nếu nhìn sâu vào ý nghĩa, ta sẽ thấy Halloween và Lễ Các Thánh không đối lập. Có lẽ đây là hai mặt của cùng một thực tại nhân sinh. Một đằng con người đứng giữa bóng tối của cái chết, đằng khác chúng ta đứng trước ánh sáng của sự sống đời đời. Vấn đề là ta chọn nhìn theo hướng nào. Halloween nhắc ta rằng cái chết là điều có thật. Không ai thoát khỏi thân phận đó nhưng Lễ Các Thánh lại nhắc nhở rằng cái chết không phải là dấu chấm hết. Nếu Halloween là đêm tối, thì Lễ Các Thánh là bình minh của sự phục sinh.

Trong xã hội hiện đại, người ta cố gắng trốn tránh thực tại cái chết bằng cách phủ lên nó một lớp hóa trang, hoặc văn hóa “kinh dị” để chế ngự nỗi sợ. Tuy nhiên, Kitô giáo lại mời gọi ta đối diện với cái chết trong đức tin. Thật đẹp khi chúng ta ra nghĩa trang vào dịp này để thấy niềm hy vọng vào Chúa Phục sinh. Khi đứng trước những nấm mồ, ta mới hiểu giá trị của sự sống đời sau. Thánh Phanxicô Assisi từng gọi “chị chết” là người bạn thân thiết, bởi ngài thấy nơi đó điểm đến của hành trình yêu thương.

Với nhãn quan vừa trình bày, về phương diện mục vụ ngày nay, chúng ta cần chung tay “rửa tội lại” cho lễ hội Halloween, bằng cách hướng từ nỗi sợ sang niềm tin. Nhiều giáo xứ ở châu Âu và Việt Nam gần đây đã tổ chức “Holywins” (Thánh thắng), một hình thức mới của Halloween. Thay vì hóa trang thành ma quỷ, các em nhỏ hóa thành các vị thánh, thiên thần, hay nhân vật Kinh thánh, vừa vui tươi vừa học hỏi đức tin. Đó chính là cách Hội thánh biến một tập tục thế tục thành cơ hội loan báo Tin mừng.

Hơn nữa, từ Lễ Các Thánh (01/11) đến lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (02/11), Hội thánh mời gọi ta bước vào mầu nhiệm các Thánh thông công. Đây là mầu nhiệm hiệp thông thật đẹp. Là những người còn sống, chúng ta cầu nguyện cho những linh hồn đang được thanh luyện. Khi cầu nguyện cho các linh hồn, ta không chỉ nhớ đến người thân đã khuất, mà còn tuyên xưng niềm tin vào sự sống lại và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chính niềm tin ấy giúp ta không phải sợ bóng tối của Halloween. Điều đó có nghĩa là ánh sáng của sự phục sinh đã chiếu rọi lên các nghĩa trang và những nấm mồ…

Kết luận

Có thể nói từ Halloween đến Lễ Các Thánh là hành trình biến đổi: từ sự sợ hãi đến hy vọng, từ giả trang đến chân thật, từ bóng tối đến ánh sáng. Halloween nhắc ta rằng thế giới này không phải chỉ toàn ánh sáng, vẫn còn đó sự dữ, sự chết và nỗi sợ; nhưng Lễ Các Thánh tuyên bố rằng ánh sáng mạnh hơn bóng tối, tình yêu mạnh hơn sự chết và đức tin mạnh hơn mọi nỗi sợ hãi. Ước gì trong dịp này, chúng ta cảm nhận rằng không có bóng tối nào quá khủng khiếp mà ánh sáng của Thiên Chúa không thể phá tan.

Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta cũng biết sống hy vọng vào sự sống đời sau. Sự sống vĩnh hằng không chỉ cho những linh hồn đã khuất mà còn cho chính chúng ta, những người đang trên hành trình về Nhà Thiên Chúa. Dù sống hay chết, chúng ta vẫn luôn được Thiên Chúa quan tâm. Thiên Chúa bận tâm đến từng người, vì chúng ta là con cái của Ngài.

Xin chúc mỗi người, đặc biệt khi đứng trước mộ phần, luôn vững tin và tràn đầy hy vọng vào cuộc sống vĩnh hằng mà Thiên Chúa đang mở rộng đón chờ chúng ta!

Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ

Nguồn: hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/10/54cb6ecf-5d92-42b2-ab5f-3008a32dbd2f.webp 608 1080 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-10-29 16:55:012025-10-29 16:55:01Từ Halloween đến Lễ Các Thánh

Xin rủ lòng thương (26/10/2025 – Chúa Nhật 30 TN C)

26 Tháng 10, 2025/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa/by Hoàng Từ

Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực và nguyện rằng: ‘Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội’.

Bài Ðọc I: Hc 35, 15b-17. 20-22a

“Lời cầu nguyện của người khiêm nhường vọng lên tới các tầng mây”.

Trích sách Huấn Ca.

Chúa là quan án, Người không xem sao vinh quang loài người. Chúa không vì nể kẻ nghịch với người nghèo khó, và Người nhậm lời kẻ bị áp bức kêu cầu. Người không khinh rẻ kẻ mồ côi khẩn nguyện, cũng không khinh rẻ người goá bụa, khi nó bày tỏ lời than van.

Nỗi hồn đắng cay, của lễ được nhận, và tiếng kêu oan kíp thấu tầng mây. Lời cầu nguyện của kẻ khiêm nhường vọng lên tới các tầng mây: nó sẽ không yên lòng cho đến khi lời nguyện nó đến nơi, và nó chẳng rút lui cho đến khi Ðấng Tối Cao đoái nhìn. Chúa sẽ không trì hoãn, Người sẽ xét đoán những người công chính và sẽ ra lời phán quyết.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 17-18. 19 và 28

Ðáp: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe (c. 7a).

Xướng: 1) Tôi chúc tụng Thiên Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Thiên Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui.

Ðáp: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe (c. 7a).

2) Thiên Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Người cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo.

Ðáp: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe (c. 7a).

3) Thiên Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương giập nát. Thiên Chúa cứu chữa linh hồn tôi tớ của Người, và phàm ai tìm đến nương tựa nơi Người, người đó sẽ không phải đền bồi tội lỗi.

Ðáp: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe (c. 7a).

 

Bài Ðọc II: 2 Tm 4, 6-8. 16-18

“Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha”.

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu.

Con thân mến, phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha. Và trong ngày đó, Chúa là Ðấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy; nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện.

Lần đầu tiên cha đứng ra biện hộ cho cha, thì chẳng ai bênh đỡ cha, trái lại mọi người đều bỏ mặc cha: xin chớ chấp tội họ. Nhưng Chúa đã phù hộ cha và ban sức mạnh cho cha, để nhờ cha mà lời rao giảng được hoàn tất, và tất cả các Dân ngoại được nghe: vậy cha đã thoát khỏi miệng sư tử. Chúa đã giải thoát cha khỏi mọi sự dữ và cứu lấy cha để đưa vào nước Người trên trời. Nguyện chúc Người được vinh quang muôn đời! Amen.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Ga 14, 5

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 18, 9-14

“Người thu thuế ra về được khỏi tội”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu nói dụ ngôn sau đây với những ai hay tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người biệt phái, một người thu thuế. Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: ‘Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như các người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; tôi ăn chay mỗi tuần hai lần và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi’. Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực và nguyện rằng: ‘Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội’. Ta bảo các ngươi: người này ra về được khỏi tội, còn người kia thì không. Vì tất cả những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên”.

Ðó là lời Chúa.

BÀI 1: XIN TẠ ƠN THIÊN CHÚA

Suy Niệm

Khi nghĩ về người Pharisêu, ta thường nghĩ đến thói giả hình.

Quả thực, có một số người Pharisêu như vậy,

nhưng không phải tất cả đều thế đâu.

Thật ra, nhóm Pharisêu là nhóm rất đạo đức.

Và họ đạo đức thực lòng, chứ không giả dối.

Họ đã chuyên cần học hỏi về Luật Chúa,

và muốn giữ cẩn thận Luật ấy trong mọi hoàn cảnh.

Ông Pharisêu trong dụ ngôn sau của Đức Giêsu

không phải là người giả hình.

Ông ấy thực sự rất đạo đức,

và được mọi người ngưỡng mộ.

Khi nghe lời cầu nguyện của ông trên Đền thờ,

nhiều người Do-thái thầm mơ ước sống được như vậy.

Trước hết, ông đã tránh được những sai phạm lớn

như trộm cắp, bất chính, ngoại tình.

Ông còn ăn chay mỗi tuần vào thứ hai và thứ năm,

dù luật chỉ buộc ăn chay mỗi năm một lần (Lv 16,29-30).

Ông nộp thuế thập phân về tất cả mọi thu nhập,

dù luật chỉ buộc nộp về hoa lợi, chăn nuôi (Lv 27,30-31).

Ngược lại, khi nghe lời cầu nguyện của anh thu thuế,

ta thấy anh chỉ nhận mình là tội nhân,

cần đến tình thương xóa tội của Thiên Chúa (Lc 18,13).

Dưới mắt nhiều người, anh là kẻ thù của dân tộc,

và là kẻ có đời sống không trong sạch chút nào.

Cả hai đều gọi tên Thiên Chúa khi bắt đầu cầu nguyện.

Nhưng Thiên Chúa sẽ nhậm lời cầu nguyện của ai?

Ai là người chạm được vào trái tim của Thiên Chúa?

Những người Do-thái thời Đức Giêsu trả lời ngay:

Dĩ nhiên là ông Pharisêu đạo đức.

Nhưng câu khẳng định của Đức Giêsu để kết dụ ngôn

hẳn đã làm nhiều người chưng hửng :

Anh thu thuế tội lỗi, khi xuống núi để về nhà mình,

thì được Thiên Chúa nhìn nhận là người công chính,

hơn là ông Pharisêu đạo hạnh (Lc 18,14).

Đây là một sự đảo ngược lạ lùng bởi Thiên Chúa.

Thiên Chúa có lối đánh giá khác với con người.

Ngài không chỉ để ý đến cái bên ngoài,

nhưng nhìn thấu tấm lòng bên trong.

Ngài chỉ thi ân khi gặp được một tấm lòng chờ đợi.

Anh thu thuế đã mở cửa cho Chúa, và đã van xin.

Anh khiêm tốn đứng xa, không dám ngước mắt lên,

chỉ biết đấm ngực để tỏ lòng sám hối.

Ngược lại, ông Pharisêu chẳng xin gì.

Ông thấy mình chu toàn quá tốt những điều luật dạy,

bởi đó ông thấy mình chẳng cần Chúa xót thương.

Những việc hoành tráng ông làm khiến ông trở nên tự phụ,

và coi khinh anh thu thuế đang đứng cuối Đền thờ.

Thiên Chúa dễ gặp anh thu thuế hơn, vì lòng anh mở.

Ngài khó gặp ông Pharisêu, vì cửa lòng ông khép.

Tiếc thay, công đức của ông lại thành bức tường cao

ngăn ông gặp Chúa và tha nhân.

Còn tội của anh thu thuế lại thành nhịp cầu gặp gỡ Chúa.

Ở thế kỷ 21, nhiều người vẫn sống như anh thu thuế.

Họ sống trong hoàn cảnh khách quan là có tội,

vì vấp ngã, vì nghề nghiệp, vì chuyện hôn nhân…

và họ không dễ thoát ra khỏi tình trạng tội lỗi đó.

Dụ ngôn trên đây của Chúa Giêsu đem lại hy vọng

cho những người đang mất hy vọng vào đời mình.

Thiên Chúa không chê bỏ việc ăn chay hay dâng cúng,

cũng không cấm chúng ta tích đức, lập công.

Nhưng Đức Giêsu nhắc chúng ta nhớ rằng

ơn cứu độ không mua được bằng nỗ lực bản thân,

nhưng là quà tặng Chúa ban mà ta đưa tay lãnh nhận.

Ai trong chúng ta cũng giống anh trộm lành

nhận được tin vui vào giây phút cuối (Lc 23,42).

Cầu Nguyện

Lạy Cha,

những tội chúng con phạm

vừa mang dáng dấp tội Ađam,

lại vừa mang dáng dấp tội Cain.

Tội nào cũng là khép lại trên chính mình,

khước từ Thiên Chúa và quay lưng trước anh em.

Tội nào cũng lấy mình làm trung tâm

và quy tất cả về mình.

Xin cho chúng con đừng nhìn ngắm công trạng của mình,

nhưng nhìn vào những nén bạc Cha giao

mà chúng con chưa đầu tư sinh lợi cho đủ.

Xin cho chúng con đừng tự mãn nhìn về quá khứ,

nhưng hướng đến tương lai với bao điều cần thực hiện.

 

Lạy Cha,

xin cho chúng con đừng lấy đức hạnh của mình

làm thước đo người khác,

đừng cứng cỏi lạnh lùng khi đánh giá anh em.

Ước gì chúng con có quả tim như Con Cha,

hiền lành và khiêm nhượng,

để chúng con có thể mở ra đến vô cùng

trước những đòi hỏi của Cha và nhu cầu của anh em. Amen.

BÀI 2: XIN THƯƠNG XÓT CON

Suy Niệm

Khi Ðức Giêsu đưa ra kết luận:

người thu thuế được nên công chính, còn người Pharisêu thì không.

những người nghe Ngài hẳn đã ngỡ ngàng.

Ông Pharisêu là mẫu mực trong việc giữ Luật.

Những điều xấu xa tiêu cực, ông không làm.

Những điều Luật đòi hỏi, ông còn làm hơn thế.

Lời cầu nguyện của ông hết sức tự phát và chân thành,

một lời nguyện mà nhiều người đạo đức thèm muốn.

Tại sao Thiên Chúa lại không nhìn đến ông?

Tại sao Thiên Chúa lại thương người thu thuế tội lỗi,

dù anh ta nào đã hứa bỏ cái nghề tồi tệ đó,

nào đã chịu đền bù bao nhũng lạm mình gây ra?

Tình thương của Thiên Chúa thì nghịch lý, nhưng không vô lý.

Chúng ta cần nhìn ông Pharisêu cầu nguyện.

Ông đứng tách biệt với những người khác trong Ðền Thờ.

Mắt ông vẫn thấy anh thu thuế đứng xa phía dưới.

Chúng ta cần nghe lời ông cầu nguyện.

Ông muốn dâng lên Thiên Chúa một lời tạ ơn,

nhưng tạ ơn lại trở thành so sánh mình với người khác,

và đầy ứ cái tôi tự mãn, tự hào:

tôi không như bao kẻ khác, tôi ăn chay, tôi nộp thuế…

Cái tôi của ông thật tuyệt vời, hơn hẳn người khác.

Cái tôi của ông quá ngon lành, bảo đảm,

nên ông không cần xin Chúa thêm điều gì.

Ông chỉ khoe Chúa những thành tích của ông,

hay đúng hơn ông đang ngắm mình và độc thoại.

Ðời sống của ông Pharisêu đầy đặn quá, tròn trịa quá

đến nỗi Thiên Chúa trở nên thừa.

Ngài chẳng tìm ra một kẽ hở nào để vào đời ông

nên Ngài đành chịu đứng ngoài.

Ngược lại anh thu thuế thì run rẩy xấu hổ,

chẳng dám ngước nhìn Chúa, chẳng dám lại gần tha nhân.

Anh thấy rõ các tội của mình,

và thấy mình bất lực, bế tắc, tự sức không sao tháo gỡ.

Anh chỉ còn biết cậy dựa và phó thác cho Tình thương.

Người thu thuế thật là con người tội lỗi,

nhưng tội của anh đã trở nên một kẽ hở

để Thiên Chúa có thể đi vào đời anh.

Chính sự trống rỗng của anh đã thành khoảng trống cho Thiên Chúa.

Tội lỗi hay công đức

đều có thể làm ta khép lại hay mở ra.

Ðiều quan trọng là thấy mình luôn luôn cần Chúa.

Tiếc là ông Pharisêu chưa nhận ra khuyết điểm của mình.

Ông về nhà mà không biết mình chẳng được Chúa ưu ái.

Ông về nhà mà vẫn khép kín tự mãn như lúc lên đền.

Làm sao tôi có được sự trung tín của ông Pharisêu

và sự khiêm hạ của anh thu thuế?

Làm sao tôi tận dụng mọi năng lực Chúa ban

mà vẫn hoàn toàn phó thác cho Chúa định liệu?

Ước gì đời tôi có nhiều kẽ hở để Chúa vào.

Gợi Ý Chia Sẻ

1. Càng thánh thiện thì càng thấy mình cần đến Thiên Chúa. Khi nào trong cuộc sống bạn thấy mình cần Chúa hơn cả?

2. Chúng ta vẫn thường ngấm ngầm so sánh mình với người khác như ông Pharisêu. Khi sống đạo đức, chúng ta rất dễ rơi vào thái độ tự hào. Làm sao để thắng được tính xấu này?

Cầu Nguyện

Lạy Cha, những tội chúng con phạm

vừa mang dáng dấp của tội Ađam

vừa mang dáng dấp của tội Cain.

Tội nào cũng là khép lại trên chính mình,

khước từ Thiên Chúa và quay lưng trước anh em.

Tội nào cũng là lấy mình làm trung tâm

và qui tất cả về mình.

 

Xin cho chúng con đừng nhìn ngắm công trạng của mình,

nhưng nhìn vào những nén bạc Cha giao

mà chúng con chưa đầu tư sinh lợi cho đủ.

Xin cho chúng con đừng tự mãn nhìn về quá khứ,

nhưng hướng đến tương lai với bao điều cần thực hiện.

Lạy Cha, xin cho chúng con đừng lấy đức hạnh của mình

làm thước đo người khác,

đừng cứng cỏi lạnh lùng khi đánh giá tha nhân.

 

Ước gì chúng con có quả tim như Con Cha,

hiền lành và khiêm nhượng,

để chúng con có thể mở ra đến vô cùng

trước những đòi hỏi của Cha và nhu cầu của anh em. Amen.

BÀI 3: TỰ HÀO

Suy Niệm

Ðạo đức là một điều tốt,

nhưng tự hào về đạo đức của mình lại là một nguy cơ

Làm việc lành là một điều tốt,

nhưng nếu việc lành khiến tôi khinh miệt tha nhân

thì thật là nguy hiểm.

Dụ ngôn trên đây cho thấy hai khuôn mặt trái ngược:

người Pharisêu công chính và người thu thuế tội lỗi.

Chúng ta cần hình dung cách đứng cầu nguyện của họ,

và cần suy nghĩ về những lời họ thưa với Chúa.

Lời nguyện nào cũng phản ảnh tâm hồn.

Người Pharisêu trước hết dâng lời tạ ơn Thiên Chúa,

vì ông thấy mình hơn kẻ khác nhiều.

Ông liệt kê những tội ông không hề phạm,

và những việc đạo đức ông quen làm,

vượt quá điều Lề luật đòi hỏi.

Ông vừa cầu nguyện, vừa liếc mắt nhìn

anh thu thuế đứng ở xa phía dưới.

Ông thấy mình hơn hẳn anh ta.

Quả thật ông là một người giàu,

vì ông chẳng có gì phải khẩn xin Thiên Chúa.

Ngược lại, anh thu thuế lại là người nghèo.

Anh muốn làm lại cuộc đời,

nhưng hầu như không sao làm nổi.

Nếu hoán cải, chắc anh phải bỏ nghề,

nhất là phải bồi thường mọi gian lận xưa nay.

Anh không dám ngước mắt lên trời,

chỉ biết đấm ngực nài xin lòng thương xót Chúa.

Thiên Chúa sẽ nghiêng về phía ai?

Ngài không nghiêng về người Pharisêu,

kẻ tự hào mình công chính và khinh rẻ tha nhân,

nhưng Ngài cúi xuống người thu thuế

và đáp lại lời nài xin của anh,

vì anh không cậy dựa vào công đức của mình

nhưng vào lòng thương xót của Chúa.

Chúng ta không thể làm cho mình trở nên thánh thiện

nhờ thực hành một số việc đạo đức nào đó.

Chúng ta cũng không thể mua được Nước Trời

chỉ nhờ những cố gắng nỗ lực của bản thân.

Trở nên thánh, nên công chính

là việc Chúa làm nơi tôi,

là quà tặng Ngài ban cho tôi.

Tôi chỉ cần khiêm tốn mở ra,

để cho Ngài chiếm lấy mọi khoảng đời của mình,

chi phối mọi khoảnh khắc của ngày sống.

Nên thánh là để cho Chúa chinh phục và yêu thương.

Thánh nhân chẳng bao giờ là người tự hào,

nhưng là người càng lúc càng cần đến Thiên Chúa.

Gợi Ý Chia Sẻ

1. Bạn nghĩ gì với những lời cầu nguyện của bạn? Có khi nào nó giống với lời cầu của người Pharisêu không?

2. Chúng ta thường xét đoán người khác theo cái nhìn bên ngoài. Có khi nào bạn thấy mình mắc phải sai lầm khi vội vã xét đoán người khác không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa,

khi đến cới Chúa

con tháo bỏ đôi giày những tham vọng của con

con cởi bỏ đồng hồ thời khóa biểu của con,

con đóng lại bút viết các quan điểm của con,

con bỏ xuống chìa khóa sự an toàn của con,

để con được ở một mình với Ngài.

 

Lạy Thiên Chúa duy nhất và chân thật,

sau khi được ở với Ngài,

con sẽ xỏ giày vào

để đi theo con đường của Chúa

con sẽ đeo đồng hồ

để sống trong thời gian của Chúa,

con sẽ đeo kính vào

để nhìn thế giới của Chúa,

con sẽ mở bút ra

để viết những tư tưởng của Chúa,

con sẽ cầm chìa khóa lên

để mở những cánh cửa của Chúa. (Graham Kings)

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/10/efd73ce1-6092-4087-be81-5c6d2fdbacdb.webp 600 768 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-10-26 19:21:152025-10-28 19:25:14Xin rủ lòng thương (26/10/2025 – Chúa Nhật 30 TN C)

Sức mạnh từ trời cao (29/5/2026 – Lễ Chúa Thăng Thiên năm C)

30 Tháng 5, 2025/0 Comments/in Lời Chúa mỗi ngày, Sống lời Chúa, Uncategorized/by Hoàng Từ
Thầy sẽ sai đến với các con Ðấng Cha Thầy đã hứa; vậy các con hãy ở lại trong thành cho đến khi mặc lấy quyền lực từ trên cao ban xuống.

Bài Ðọc I: Cv 1, 1-11

“Trước sự chứng kiến của các ông, Người lên trời”.

Bài trích sách Tông đồ Công vụ.

Hỡi Thêôphilê, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những điều Ðức Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, cho đến ngày Người lên trời, sau khi căn dặn các Tông đồ, những kẻ Người đã tuyển chọn dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần. Sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa. Và trong một bữa ăn, Người đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa. Người nói: “Như các con đã nghe chính miệng Thầy rằng: Gioan đã làm phép rửa bằng nước, phần các con, ít ngày nữa, các con sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”.

Vậy các kẻ có mặt hỏi Người rằng: “Lạy Thầy, có phải đã đến lúc Thầy khôi phục Nước Israel chăng?” Người bảo họ rằng: “Ðâu phải việc các con hiểu biết thời gian hay kỳ hạn mà Cha đã ấn định do quyền bính Ngài. Nhưng các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”. Nói xong, Người được cất lên trước mắt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông.

Ðang khi các ông còn ngước mắt lên trời nhìn theo Người đang xa đi, thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: “Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 46, 2-3. 6-7. 8-9

Ðáp: Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang.

Xướng: 1) Hết thảy chư dân, hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa tiếng reo vui! Vì Chúa là Ðấng Tối cao, khả uý, Người là Ðại Ðế trên khắp trần gian.

Ðáp: Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang.

2) Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang. Hãy ca mừng, ca mừng Thiên Chúa’ hãy ca mừng, ca mừng Vua ta!

Ðáp: Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang.

3) Vì Thiên Chúa là Vua khắp cõi trần gian, hãy xướng ca vịnh mừng Người. Thiên Chúa thống trị trên các nước, Thiên Chúa ngự trên ngai thánh của Người.

Ðáp: Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang.

Bài Ðọc II: Ep 1, 17-23

“Người đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời”.

Bài trích thư của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, xin Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Cha vinh hiển, ban cho anh em thần trí khôn ngoan và mạc khải, để nhận biết Người, xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi, thế nào là sự phong phú gia nghiệp vinh quang nơi các thánh, và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta, là những kẻ tin, chiếu theo hành động của sức mạnh quyền năng Người, công việc mà Chúa đã thực hiện trong Ðức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại, và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời, vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần, và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này lẫn đời sau. Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Ngài, và tôn Ngài làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài, và là sự sung mãn của Ðấng chu toàn mọi sự trong mọi người.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Mt 28, 19 và 20

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. – Alleluia.

Phúc Âm: Lc 24, 46-53

“Ðang khi Người chúc phúc cho các ông, Người rời khỏi các ông mà lên trời”.

Bài kết Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Như đã ghi chép là Ðức Kitô phải chịu khổ hình và ngày thứ ba từ cõi chết sống lại; và nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ Giêrusalem. Các con là nhân chứng những sự việc ấy. Thầy sẽ sai đến với các con Ðấng Cha Thầy đã hứa; vậy các con hãy ở lại trong thành cho đến khi mặc lấy quyền lực từ trên cao ban xuống”. Rồi Người dẫn các ông ra ngoài, đến làng Bêtania, và giơ tay chúc phúc cho các ông. Sự việc xảy ra là đang khi Người chúc phúc cho các ông, Người rời khỏi các ông mà lên trời. Các ông thờ lạy Người, và trở về Giêrusalem lòng đầy vui mừng. Các ông luôn luôn ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa. Amen.

Ðó là lời Chúa.

BÀI 1: ĐƯỢC ĐEM LÊN TRỜI

Suy Niệm

Lễ Chúa Thăng Thiên là một lễ trọng cho loài người.
Thân xác của Chúa Giêsu đã chết, nhưng được phục sinh.
và bắt đầu được hưởng vinh quang thiên quốc.
Chúa phục sinh hiện ra với các môn đệ nhiều lần
để củng cố đức tin và dạy dỗ họ (Cv 1,3).
Rồi có một ngày, Ngài nói lời chia tay lần cuối.
Từ nay Ngài sẽ không hiện ra với họ nữa.
Ngài về với thế giới của Thiên Chúa Cha.
Giờ đây Ngài mới được hưởng vinh quang trọn vẹn
khi ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng.

Lễ Chúa Thăng Thiên là một lễ trọng cho loài người,
vì Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người,
đã vào Nước Trời với thân xác phục sinh của mình,
với toàn bộ nhân tính đã được biến đổi của mình.
Giờ đây trong thế giới của Thiên Chúa,
có sự hiện diện của một người anh em với chúng ta,
đó là Chúa Giêsu phục sinh với những dấu đinh.
Ngài là con người đầu tiên được vào Nước Trời.
Ngài là Đầu, mở cửa cho cả nhân loại đi vào Nước Cha.
Mừng kính lễ Chúa Thăng Thiên
là mừng sự thành tựu của một con người mang tên Giêsu.
Giêsu ấy có thân xác như ta, sống phận người long đong,
nhọc nhằn loan báo Tin Mừng cho người nghèo,
và cuối cùng chết thảm thiết trên thập giá.
Giêsu ấy đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh,
Ngài về với thế giới của Thiên Chúa Cha.
Giờ đây Ngài mới được hưởng vinh quang trọn vẹn
khi ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng.

Lễ Chúa Thăng Thiên là một lễ trọng cho loài người,
vì Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người,
đã vào Nước Trời với thân xác phục sinh của mình,
với toàn bộ nhân tính đã được biến đổi của mình.
Giờ đây trong thế giới của Thiên Chúa,
có sự hiện diện của một người anh em với chúng ta,
đó là Chúa Giêsu phục sinh với những dấu đinh.
Ngài là con người đầu tiên được vào Nước Trời.
Ngài là Đầu, mở cửa cho cả nhân loại đi vào Nước Cha.
Mừng kính lễ Chúa Thăng Thiên
là mừng sự thành tựu của một con người mang tên Giêsu.
Giêsu ấy có thân xác như ta, sống phận người long đong,
nhọc nhằn loan báo Tin Mừng cho người nghèo,
và cuối cùng chết thảm thiết trên thập giá.
Giêsu ấy đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh,
và trở nên niềm hy vọng cho những ai đang vất vả ở đời.
Chúng ta tin đời mình sẽ có một kết cục tươi tắn,
sẽ có một chỗ bên cạnh Giêsu, Đấng mình đã tin và theo.

Chúa Giêsu về trời cả hồn lẫn xác,
nên lễ Chúa Thăng Thiên là lễ nhắc nhở chúng ta
về định mệnh cao quý của thân xác.
Thân xác phải được kính trọng, vì sẽ được tôn vinh với linh hồn.
Thân xác bị phân hủy, nhưng sẽ được phục sinh và sống mãi.
“Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.”
Đó là niềm tin của chúng ta trong Kinh Tin Kính.
Thế giới hôm nay tiến bộ mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật
nhưng thân xác lại bị coi khinh dưới muôn ngàn hình thức.
Chính khi đòi tự do, giải phóng cho thân xác,
người ta lại khiến thân xác thành nô lệ.
Những cuộc chiến xảy ra mỗi ngày, mỗi giờ trên địa cầu,
đã cướp đi biết bao mạng sống con người.
Cả những thai nhi cũng bị tước đi quyền sống.
Thân xác không còn là Đền Thờ của Thánh Thần (1 Cr 6,19).
Thân xác ô uế, không còn là chi thể của Đức Kitô (1 Cr 6,15).

Chúa Giêsu về trời sau khi đã hoàn thành sứ mạng Cha trao.
Ngài khép lại một Giai đoạn của lịch sử cứu độ,
và mở ra một Giai đoạn mới cho Giáo Hội.
Các môn đệ phải trở nên những chứng nhân của Ngài.
Nhân danh Ngài, họ phải đi rao giảng cho mọi dân tộc,
mời gọi người ta hối cải để được ơn tha thứ (Lc 24,47).
Như thế, các môn đệ sẽ tiếp nối công việc của Thầy.
Thầy đã làm cuộc xuất hành lên Giêrusalem,
họ cũng phải làm cuộc xuất hành từ Giêrusalem
đến mọi miền trên thế giới.
Như Thầy Giêsu, họ sẽ không tránh khỏi từ bỏ mình,
chịu nhục nhã, khổ đau, và cái chết (Lc 9,23).
Điều khiến họ vững tâm là Thánh Thần:
“Thầy sẽ gửi lời hứa của Cha Thầy trên anh em” (Lc 24,49).
Như thế Thánh Thần là quà của Cha, do Chúa Giêsu gửi đến.
Chúa Giêsu khuyên các ông cứ ở lại Giêrusalem,
để chờ đợi biến cố Thánh Thần hiện xuống,
biến cố khiến họ được mặc lấy sức mạnh từ trên cao.

Mừng lễ Chúa về trời trong vinh quang,
chúng ta hiểu trần gian chỉ là trạm dừng chân.
Ta sống trên đời như khách hành hương về quê thật.
Siêu thoát với mọi hấp dẫn mê hoặc của trần thế,
bình tâm sử dụng mọi sự như phương tiện đưa ta về…
Nhưng ta quý trần gian vì phải qua đó ta mới vào Nước Trời.
Ước gì trần gian này thành hình bóng của thiên quốc.

Cầu Nguyện

Lạy Chúa,
Con người hôm nay chênh vênh giữa trời cao và vực thẳm,
Chúa đã cho chúng con tự do để chọn
giữa thiện và ác,
giữa đồng cảm và vô cảm,
giữa chân lý và dối trá.
giữa tha thứ và hận thù,
giữa hiệp nhất và chia rẽ.


Chúa đã được giương cao khỏi mặt đất,
và Chúa hứa sẽ kéo mọi người lên.
Vậy mà chúng con hôm nay vẫn còn chênh vênh!
Cuộc đời này có bao điều hút chúng con xuống,
khiến chúng con cứ bị giằng co nghiêng ngả.


Xin giúp chúng con buông bỏ những đam mê trần tục,
để dám chọn điều Chúa đã chọn trên Thánh Giá:
chọn khó nghèo, nhục nhã, chọn tự hạ, khổ đau.


Nhờ sức mạnh cứu độ của Thánh Giá Chúa,
xin đưa chúng con ra khỏi thế đứng chênh vênh
để trọn vẹn thuộc về Chúa. (Sr. Augusta)

BÀI 2: SỨC MẠNH TỪ TRỜI CAO

Suy Niệm

Ðức Giêsu được đưa về trời khiến cả nhân loại hoan hỷ.
Con Thiên Chúa làm người, long đong với phận người,
nếm cái nghèo đói, nhọc nhằn, nếm nỗi khổ đau, cay đắng.
Cuộc đời Ngài tưởng như là một thất bại ê chề.
nhưng rồi Ngài đã được phục sinh và hiện ra,
được khải hoàn đưa vào thế giới của Thiên Chúa.
Ngài từ Cha mà đến và lại trở về với Cha.
Sứ mạng Cha giao, tuy khó khăn, nhưng Ngài đã hoàn tất.

Ta cần chiêm ngắm giây phút Ngài được siêu thăng.
Ngài giơ tay chúc lành cho các môn đệ như vị thượng tế.
Ngài về trời trong tư thế đang chúc lành.
Chúc lành cho trái đất mà Ngài đã sống.
Chúc lành cho những ai là người như Ngài.
Hôm nay chúng ta vui vì biết mình có người Anh trưởng
đã được nâng lên đến tột đỉnh vinh quang thần linh.
Con người đầu tiên với tất cả nhân tính như ta
đã được siêu tôn trên trời, dưới đất và nơi âm phủ.
Sự thành công của Ðức Giêsu là niềm hy vọng cho ta.
Cùng đi với Ngài trên con đường cheo leo ấy,
Chúng ta tin mình sẽ đến nơi mà Ngài đã đến.

Ðức Giêsu về trời sau khi hoàn thành sứ vụ dưới đất.
Ngài muốn chúng ta ở lại và gánh lấy trách nhiệm.
Bước chân Ngài mới chỉ đi hết xứ Palestina bé nhỏ.
Còn cả một thế giới mênh mông ngút ngàn.
Còn bao dân tộc xa gần chưa hề nghe rao giảng.
Ngài muốn ta làm chứng nhân của Ngài đến tận thế.
Thiên thần bảo chúng ta không được khoanh tay nhìn trời,
vì còn quá nhiều việc phải làm trước mắt.
Chúng ta phải nhiệt tình xây dựng thế giới này
huynh đệ hơn, công bằng hơn, bác ái hơn, văn minh hơn,
để nó xứng đáng đón ngày Ngài trở lại.
Chúng ta không được khoanh tay nhìn trời,
nhưng lòng chúng ta lại phải thường xuyên hướng lên trời.
Xây dựng trái đất mà không hướng lòng về trời,
thì sẽ không tìm được câu trả lời tối ưu.
Chúng ta cần sức mạnh từ trên cao của Thánh Thần
để giải quyết những vấn đề chằng chịt của trái đất:
ma túy, trụy lạc, tham nhũng, ô nhiễm, đói nghèo,
và nhất là vấn đề xây dựng con người.

Khoa học kỹ thuật tiến bộ làm cuộc sống nhẹ nhàng
nhưng cũng thường làm con người thêm nặng nề.
Con người như bị dính vào những sản phẩm mình tạo ra,
bị nô lệ cho những nhu cầu không có thực.
Trái đất này vẫn có sức thu hút ghê gớm
khiến ta muốn chọn nó làm quê hương vĩnh hằng,
và quên rằng quê thật của ta ở trên trời cao (Pl 3,20).
“Hãy tìm kiếm những điều trên cao” (Cl 3,1).
Ðừng dập tắt nỗi khát khao những điều cao cả.
Ước gì Chúa Giêsu, Ðấng được đưa lên cao,
kéo ta lên khỏi cái tầm thường ô trọc mỗi ngày.

Gợi Ý Chia Sẻ

1) Tiền bạc, tiếng tăm, khoái lạc làm người ta nặng nề. Còn bạn, bạn thấy mình nặng nề vì điều gì? Có cách nào thoát được không?

2) Ðời sống là một nỗ lực “bay lên cao” khỏi sức kéo xuống của vật chất và của cái tôi trì trệ. Có khi nào bạn được nhẹ nhàng mà bay lên khỏi sức kéo đó không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã yêu trái đất này,
và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết
nỗi khổ đau và hạnh phúc,
sự bi đát và cao cả của phận người.

 

Xin dạy chúng con biết đường lên trời,
nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.

 

Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu,
chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
để xây dựng trái đất này,
và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.

 

Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời
không làm chúng con quên trời cao;
và những vẻ đẹp của trần gian
không ngăn bước chân chúng con tiến về bên Chúa.

 

Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nguồn:hdgmvietnam.com

https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2025/05/chua-thang-thien24465.webp 181 250 Hoàng Từ https://giaoxuhoailai.org/wp-content/uploads/2024/10/logo-small.png Hoàng Từ2025-05-30 15:43:102025-05-30 15:43:55Sức mạnh từ trời cao (29/5/2026 – Lễ Chúa Thăng Thiên năm C)
Page 1 of 41234

Tin mới đăng

  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 3 mùa Vọng năm A (Mt 11,2-11)9 Tháng 12, 2025 - 3:43 chiều
  • Logo năm Mục vụ 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế…9 Tháng 12, 2025 - 11:08 sáng
  • Đoàn TNTT Tôma Thiện tham dự nghi thức chào cờ đầu tháng với chủ đề “Cầu Nguyện”7 Tháng 12, 2025 - 11:13 sáng
  • Lịch Công Giáo và Mục vụ Giáo xứ Hoài Lai từ 06/12/2025 đến 14/12/20256 Tháng 12, 2025 - 11:10 sáng
  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 2 mùa Vọng năm A (Mt 3,1-12)3 Tháng 12, 2025 - 10:21 chiều

Follow us on Facebook

Vừa cập nhật

  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 3 mùa Vọng năm A (Mt 11,2-11)9 Tháng 12, 2025 - 3:43 chiều
  • Logo năm Mục vụ 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế…9 Tháng 12, 2025 - 11:08 sáng
  • Đoàn TNTT Tôma Thiện tham dự nghi thức chào cờ đầu tháng với chủ đề “Cầu Nguyện”7 Tháng 12, 2025 - 11:13 sáng
  • Lịch Công Giáo và Mục vụ Giáo xứ Hoài Lai từ 06/12/2025 đến 14/12/20256 Tháng 12, 2025 - 11:10 sáng
  • Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 2 mùa Vọng năm A (Mt 3,1-12)3 Tháng 12, 2025 - 10:21 chiều

Tin Giáo hội

  • Logo năm Mục vụ 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế…
  • Thư mục vụ năm 2026 +Gm. Phêrô Kiều Công Tùng
  • Đại lễ kính các thánh Tử đạo Việt Nam tại đền thánh Phúc Nhạc 24.11.2025
  • Ngày gặp mặt gia đình chủng viện Phát Diệm năm 2025
  • Thông báo: V/v Bổ nhiệm Ban Tư vấn và các Hạt trưởng nhiệm kỳ mới

Lịch làm việc Văn phòng:

+ Thứ 3 – Thứ 7: 7g30 – 11g30; 14g30 – 18g30

+ Chúa nhật: 6g30 – 10g30; 16g30 – 20g30

+ Thứ hai nghỉ cả ngày

Facebook

Thông tin liên hệ

+ Địa chỉ: Nhà thờ Giáo xứ Hoài Lai – xóm 9A, Lai Thành, Kim Sơn, Ninh Bình.

+ Điện thoại: (+84) 916.612.880

Ban truyền thông Giáo xứ Hoài Lai - powered by Enfold WordPress Theme
  • Facebook
  • Youtube
  • Tin Tức
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Scroll to top